Thầy cô như người đưa đò,
Mỗi năm một chuyến, học trò qua sông.
Thầy cô như người đưa đò,
Mỗi năm một chuyến, học trò qua sông.
Giác
ngộ trong Phật giáo được hiểu là: “Bouddha (Phật-đà),
nghĩa là giả-giác (người giác-ngộ) sau một quá-trình suy-tư và tu-tập, người đó
đã hiểu thấu đáo về chính mình và các hiện-tượng-thế-gian. Từ sự hiểu thấu đáo
đó, người giác ngộ sẽ không còn lệ-thuộc vào thế-gian, họ nhận ra chân-tính của
mình; kết quả là không còn đau khổ nữa.”[i] Với
những người tu Phật giáo, “Giác Ngộ còn có nghĩa là ‘thấy biết sự thật’
và sự thật nghĩa là chân lý tối hậu, liên hệ tới sinh mệnh, hạnh phúc của con
người.”[ii]
Để tu tập và đạt tới sự Giác ngộ, “tư tưởng Phật giáo xây dựng trên một nền tảng duy nhất và vững chắc, đó là Tứ-Diệu-Đế gồm:
- Khổ-đế (chân lý về nỗi khổ);
- Tập-đế (Ái-dục là nguồn gốc kết tập nên nỗi khổ với Tam Độc là Tham, Sân, Si);
- Diệt-đế (chấm dứt nỗi khổ, đạt tới Niết-Bàn: mục tiêu và cứu cánh của Phật giáo);
- Đạo đế (phương thế diệt khổ: Bát chánh đạo (con đường chân chánh gồm 8 chi)).”[iii]
Trong đó, Bát Chánh Đạo gồm có: Chánh kiến (Sammã Ditthi); Chánh tư duy (Sammã Sainkappa); Chánh ngữ (Sammã Vãcã); Chánh nghiệp (Sammã Kammanta); Chánh mạng (Sammã Ãjiva); Chánh tinh tấn (Sammã Vãyãma); Chánh niệm (Sammã Sati); Chánh định (Sammã Samãdhi). Cụ thể, Bát Chánh Đạo là “những phương thế diệt Ái-Dục để giải trừ đau khổ cho kiếp người do Đức Phật Thích-Ca tìm ra sau 6 năm tu tập, nó là Trung Đạo đi giữa hai cực đoan là Dục Lạc Và Khổ Hạnh, tránh được sự mờ tối của tinh thần và suy giảm trí tuệ, dần dần đưa con người đến Giác Ngộ và đạt đạo quả Niết Bàn (phúc lạc vĩnh hằng).”[iv]
Ngoài ra, triết lý về Giác Ngộ còn được chứa đựng và lưu truyền trong bản văn “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” (do chính Đức Phật Thích Ca giảng riêng cho một đệ tử xuất sắc là Subhuti trong 22 năm. Trong đó, triết lý của Tâm Kinh dẫn đường chỉ lối trong phép tu Thiền để nhờ kinh này đạt tới Giác Ngộ, nó còn được gọi là Tâm Kinh Tụng.[v]
Giải thoát trong Phật giáo được hiểu là: “thân xác con người chịu những đau khổ là do Ái-Dục, một năng-lực tự tạo, một thành-phần tinh-thần luôn luôn nằm ẩn trong lòng mỗi người. Thân xác như một căn nhà, và các sườn của căn nhà đó là những ô-nhiễm như: tham, sân, si, ngã mạn, tà-kiến, hoài-nghi, buồn phiền, phóng dật, không biết hổ thẹn với điều xấu, không sợ hậu quả của điều xấu… Cây đòn dông là sự Vô-Minh, nó chống đỡ những ô nhiễm. Vô-Minh và những ô-nhiễm là do Ái-Dục kết tập nên, chúng làm con người phải đau khổ. Do đó, để được Giải Thoát khỏi gốc rễ Ái-Dục, mọi người cần tu-tập và thiền định. Đó là Diệu-Pháp do Đức Phật Thích-Ca tìm ra sau bao năm tháng dày công tu-tập, trầm-tư và tham-thiền. Đó là cốt tủy của giáo lý Phật Giáo để Giải thoát con người khỏi vong thân.”[vi]
Thật vậy, trong kinh Udana có viết: “Này hỡi Tỳ khưu (đại đệ tử), cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối, giáo pháp chỉ có một vị là vị giải thoát.”[vii] Tương truyền vào tuần thứ bảy, khi chứng-nghiệm quả phúc Giải-thoát, Đức Thích-Ca đã nói: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân-hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi. Như-Lai đi tìm mãi mà không gặp, Như-Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả thật là phiền muộn. này hỡi người thợ làm nhà. Như-Lai đã tìm được ngươi. Từ đây, ngươi không còn cất nhà cho Như-Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng lên cũng bị phá tan. Như-Lai đã chứng quả Vô-sanh Bất-diệt và Như-Lai đã tận diệt mọi Ái-Dục” (Narada M. Thera, 73). Thật vậy, “triết lý của Đức Thích Ca không truy tìm chân lý hay nguyên nhân đau khổ ở bên ngoài, mà quay trở lại nội tâm để tìm ra nguyên nhân đau khổ, đồng thời tìm ra chân lý tối thượng, nhờ đó mọi người sẽ được giải thoát.”[viii]
[i]
Lý Minh Tuấn,
Đông Phương Triết Học Cương Yếu (Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 446
[ii]
Lý Minh Tuấn,
Những Vấn Đề Thiết Yếu Trong Triết Đông, Chương XVIII: Tiệm Ngộ và Đốn
Ngộ, (Hà Nội, Nxb Hồng Đức, 2023, 361
[iii]
Lý Minh Tuấn,
Đông Phương Triết Học Cương Yếu (Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 460
[iv]
Lý Minh Tuấn,
Vào Cửa Triết Đông, (Tp. Hồ Chí Minh, in lần 1 năm 2020, Nxb Trẻ),
37
[v]
Lý Minh Tuấn,
Cửa Thứ Nhất Vào Núi Thiếu Thất Tâm Kinh Tụng & Chứng Đạo Ca dịch và giải,
(Hà Nội, Nxb Hồng Đức, 2023, 12-13
[vi]
Lý Minh Tuấn,
Đông Phương Triết Học Cương Yếu (Sài
Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 451-452
[vii]
Lý Minh Tuấn,
Triết Lý Chữ Hòa, (Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Phương Đông, 2011), 123
[viii]
Lý Minh Tuấn,
Đông Phương Triết Học Cương Yếu (Sài
Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 450-452
Minh Đức SJ
Trước hết, ta hiểu Mạc (幕)
là cái màn, khăn che; Khải (啟) là mở ra. Mạc khải là mở ra những điều kín ẩn, bị
che giấu. Điều này có nghĩa là Đấng Tối Cao, hay Thượng Đế muốn tỏ bày chính
mình và Chân Lý cho con người.
Các đạo sĩ Ấn tin rằng: “trong Thánh
Điển Veda có Mạc khải và những Chân Lý do Thượng Đế Mạc Khải cho loài người ở đầu
mỗi chu kỳ vũ trụ.” (Lý
Minh Tuấn, Triết Lý Chữ Hòa, (Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Phương Đông, 2011),
123).
Cụ thể là trong Thánh Điển Veda có bài Tụng
Ca Đấng Sáng Tạo (Visvakarman), sau khi được đại hiền triết tra vấn về những Chân
lý, Thượng Đế đã trả lời:
“…Hỡi đại hiền triết!
Hãy tìm vào bên trong,
Và thực-hiện ở tại chính tâm mình.
Cơ sở của vũ-trụ.
Mà Người đã kiến-thiết.”
(Nguyễn
Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông,
37-38)
Điều này có nghĩa là Chân Lý được Mặc
Khải trong kinh Veda. Đồng thời, Chân Lý cũng được đặt để, phú bẩm sẵn ở bên trong
lòng mỗi người. Thật vậy, theo truyền thống Ấn giáo thì Biết là do Thượng
Đế Mạc khải, và “Chân Lý chính là Thượng Đế, là Đấng Tối Cao, và chính Ngài
luôn luôn hiện diện bên trong con người, và qua đó truyền thông Chân Lý cho chúng
ta mỗi ngày một nhiều hơn trong khi mà khả năng tiếp thu của chúng ta trở nên mỗi
ngày một tinh tường” (Lý
Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu
(Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 364 – 375).
Như vậy,
chính tâm hồn, hay cung lòng của mỗi người là nơi chứa đựng Mặc Khải. Điều này
gần giống với trực giác của thánh Augustinô, khi ngài cảm nhận rất rõ về sự hiện
diện của Thiên Chúa ở trong lòng mình. Hay như định nghĩa của Giáo Lý Hội Thánh
Công Giáo: “lương tâm của mỗi người là nơi Thiên Chúa hằng ngự trị” (GLHTCG
s.1776).
Cùng với quan niệm: con người có khả
năng khám phá và hiểu về Mặc Khải của Đấng Tối Cao,[1] các
đạo sĩ Ấn còn cho rằng: “Thực Tại Tối cao là Nguyên Lý duy nhất của vũ
trụ…và ‘chỉ hơi thở (Prana) của Người cũng đủ thành sinh khí cho cho toàn đại
vũ trụ, đủ tạo nên vạn vật, sự chi phối đến độ đều nằm sẵn ở từng cá thể vi ti
nhỏ nhặt nhất’ theo Atharva-Veda” (Lý
Minh Tuấn, Vào Cửa Triết Đông, (Tp. Hồ Chí Minh, in lần 1 năm 2020, Nxb
Trẻ, 26-27)).
Bên cạnh đó, những bậc đạo-sĩ-thấu-thị
có khả năng tiếp thu những lời mật chú
(mantra) từ Mạc Khải của Đấng Tối
Cao; sau đó, các vị này đã chép lại vào trong Thánh Điển Veda. Như vậy, Thánh
Điển Veda cũng chứa đựng những Chân Lý “cách gián tiếp” để truyền dạy cho các
tín đồ. Tuy nhiên, như Mạc Khải trong Thánh Điển Veda thì chính mỗi người “bình
thường” cũng có thể “tự” khám phá ra Chân Lý bên trong mình “cách trực tiếp” bằng
con đường thực-nghiệm-nội-quan tâm-linh.
Nhưng nó “đòi hỏi con người phải nỗ lực tu tập, vượt ra ngoài lãnh vực lý trí,
để đạt tới tri kiến tâm linh, để nhận được ơn thiên-khải, và có cái Biết-thực
(Chân-tri), theo Rig-Veda.” (Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu (Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, 2014), 366).
[1] Các đạo sĩ Ấn thường chỉ thị Thực
Tại Tối Cao Vô Ngã với danh hiệu Brahman, mà con người có thể kết hiệp
và hòa lẫn vào đó. Khi thành tựu đường tu, Atman (tiểu ngã, tự ngã) sẽ
nên một với Brahman (Đại ngã), Tat Tvam Asi. (theo Lý Minh Tuấn, Vào
Cửa Triết Đông, (Tp. Hồ Chí Minh, in lần 1 năm 2020, Nxb Trẻ,
28-29))

Khi luận bàn về vũ trụ, có
lẽ câu hỏi đầu tiên được nêu ra là: vũ trụ xuất phát từ đâu và khi nào? Và theo
thời gian, nó vận hành ra sao? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ nỗ lực tìm hiểu
vấn đề đó ngang qua vài triết thuyết cơ bản.
Cách đây vài ngàn năm,
nhiều người đã nghiên cứu và tìm cách giải thích về nguồn gốc của vũ trụ, đặc
biệt là các triết gia thời Hy Lạp cổ đại. Trước hết, theo nhãn quan của một số
tôn giáo, chẳng hạn như Hinduism, họ quan niệm vũ trụ được một con voi khổng lồ
đỡ trên lưng, và con voi đó đứng trên con rùa, đồng thời, các con rùa cứ thế xếp
chồng lên nhau. Với Do Thái Giáo, họ dựa vào Kinh Thánh Cựu Ước, cụ thể là sách
Sáng Thế để giải thích về nguồn gốc của vũ trụ. Trong sách Sáng Thế có viết: “Lúc
khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng,
bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.”
(Sáng Thế 1, 1-2). Tác giả của sách sáng thể giải thích là từ hỗn mang, Thiên
Chúa tạo dựng nên vũ trụ này cách có trật tự và tốt đẹp chỉ trong vòng 6 ngày.
Đến thời Hy Lạp cổ đại,
các triết gia tiền Socrates đã nghiên cứu và cho là có bốn nguyên tố cơ bản cấu
thành nên vũ trụ là: đất, nước, khí, lửa. Với triết gia Plato, ông đưa ra vai
trò của Thế Giới Linh Hồn (World Soul) và từ vật chất hỗn mang (chaos matter) dần
hình thành những hình thức mang tính hình học (geomatrical forms). Plato phân
chia pure form và pure matter, ở giữa chúng là bản thể (Substance); giữa bản thể
(substance) với hình thức (form) là thực thể (acctuality); giữa bản thể
(substance) với vật chất (matter) là tiềm thể (potential). Bên cạnh đó, với
Aristotle, ông quan niệm về sự chuyển động (motion) với 2 khuynh hướng tự nhiên
(nature) và dữ dội (violent). Ông đưa ra giải thuyết về sự tồn tại của 55 trí
tuệ vũ trụ (cosmic intelligences), tựa như Thiên Chúa tối cao vận hành quả cầu
vũ trụ (cosmic sphere) xoay vòng một cách hoàn hảo.
Vào thời trung cổ,
Plotinus cho rằng mọi sự từ nhất thể mà ra, quan niệm đó gần giống với
Aristotle. Nghĩa là vũ trụ xuất phát từ trên cao xuống dưới (flow from above),
từ trên cao đó chính là cái đệ nhất mà ông gọi là The One. Điều này gần giống với
quan niệm về Thiên Chúa trong Kinh Tin Kinh Nicea (Nicene Creed), tuyên xưng
vai trò của Đức Giêsu Kitô như là Ngôi Lời (Logos) của Thiên Chúa để sáng tạo
nên thế giới này. Thế nhưng, thánh Bonaventure quan niệm Đức Kitô như là Ngôi Lời
của Chúa Cha, ngài cho rằng mọi sự xuất phát từ Thiên Chúa nhưng từ dưới lên
trên. Tuy nhiên, cũng trong vấn đề vũ trụ luận này, thánh Thomas Aquinas khẳng
định rằng sự hiện hữu của Thiên Chúa phải có trước tất cả mọi sự, để rồi Thiên
Chúa tạo ra vạn vật. Thiên Chúa được sinh ra mà không phải được tạo thành
(Substance=nessessary; ipsum esse slubs stein). Gần đây, trong Công Đồng Vat
II, đã khẳng định rằng: “mục đích của vũ trụ được tạo thành là để Vinh Danh
Thiên Chúa. Do đó, Thiên Chúa là khởi nguyên và cứu cánh của tạo thành.” Trở lại
với Plotinus, ông đề ra thuyết nhật tâm, cụ thể là trái đất là trung tâm của vũ
trụ này, tất các hành tinh quay với quỹ đạo đồng tâm Epicycle.
Đến thế kỷ XVI,
Corpernicus qua quát sát hiện tượng nhật thực ông thấy mặt trăng che trái đất,
và hiện tượng nguyệt thực thì trái đất che mặt trăng. Dựa vào các bóng của
chúng, Corpernicus kết luật mặt trời là trung tâm của vũ trụ và ông đã đề ra
thuyết nhật tâm. Đến thế kỷ XVII, Johannes Kepler cho là: các hành tinh quay mặt
trời với quỹ đạo hình elip. Tư tưởng này, Kepler đã kế thừa từ nhà thiên văn học
Đan Mạch là Tycho Branhe (họ dùng kính thiên văn để quan sát các hành tinh).
Vào năm 1687, Issaac Newton, nhà vật lý học thiên tài người Anh, ngoài việc tìm
ra công thức Vi Phân và công thức Phân tích quang phổ, ông cũng đã phát minh ra
Định Luật Chuyển Động và Thuyết Vạn Vật Hấp Dẫn. Trong đó, ông định nghĩa Định
Luật Vạn Vật Hấp Dẫn như sau: “mọi hạt đều hút những hạt khác trong vũ trụ với
một lực tỉ lệ thuận với khối lượng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách
giữa tâm chúng.” Nhờ định luật Vạn Vật Hấp Dẫn, Newton đã tìm thấy lực hút trái
đất và ông giải thích vì sao vạn vật, các hành tinh và cả mặt trăng đều quay
quanh trái đất vì chúng có một lực hút. Thế nhưng, chúng phải quay quanh mặt trời,
kể cả trái đất. Lý thuyết cơ học của Newton được nhiều người ưa chuộng, nhưng
nó có điểm yếu là chưa tiên đoán chính xác sự di chuyển của điểm cận nhất của
sao Thủy Mercury (ngôi sao bé gần mặt trời nhất).
Đến những năm 1905, 1915,
Elbert Einstein, vĩ nhân tài năng người Đức đã đề ra thuyết Tương Đối Hẹp
(special relativity) và Thuyết tương đối rộng (general relativity). Cả hai thuyết
này đã giải quyết điểm yếu của cơ học Newton trước vấn đề đo khoảng cách chính
xác giữa sao Thủy và mặt trời. Ông cũng đo được tốc độ ánh sáng là 300.000 km/s.
Einstein cho rằng sao Thủy vì gần mặt trời nên nó chịu ảnh hưởng và bị uốn cong
quỹ đạo nhất định. Sự uốn cong không thời gian xung quanh vật thể có khối lượng
là một trong những điểm chính của thuyết tương đối rộng của E. Einstein. Với
Einstein, vũ trụ này đang giãn nở.
Dựa theo thuyết Tương Đối
của Einstein, Alexander Fricdmann (1922-1923) đã đề xuất vũ trụ đang giãn nở,
và chính Georgors Lemaitre (1927) cũng cho rằng vũ trụ đang giãn nở từ một điểm
nào đó, và ông đã đưa ra lý thuyết “Big Bag”. Thuyết Big Bag khởi đi từ việc vũ
trụ giãn nở, ngược dòng thời gina nó về mới điểm khởi phát, nguyên thủy là một
quả cầu lửa to khủng khiếp và không chỉ các hạt, nhưng còn có các nguyên tử và
cuối cùng là các đám mây khí và bụi từ đó các ngôi sao được hình thành và có sự
giãn nở bùng nổ của không gian và thời gian. Thuyết Big Bag này do linh mục Lemaitre
đề ra và nó làm chúng ta gợi nhớ đến câu chuyện sáng tạo đầu tiên trong sách Sáng
Thế, khi Thiên Chúa từ hư không người tạo dựng nên mọi sự.
Vào năm 1929, nhà thiên văn
học người Mỹ là Edwin Hubble đã dùng kính thiên văn Hooker để quan sát các thiên
hà chạy xa nhau, và năm 1931 ông cho là vũ trụ đang giãn nở thật. Đến năm 1948,
Ralph Alpher và Robert Herman đã dự đoán bức phông xạ nền vi ba CMB (Cosmic Microwave
Background) từ Big Bag. Nghĩa là nó xảy ra từ khoảng 375.000 năm sau vụ nổ Big
Bag. Cũng vào năm 1948, Gedge Gamon đã dự đoán về bức phông xạ nền vi ba CMB,
nhưng ông cho là vũ trụ đã dần nguội đi khi các proton và electron tạo cặp di
chuyển tự do trong không gian thành nguyên tử Hydrogen. CMB có bức phổ giống với
bức xạ nhiệt của vật đen do trước khi thoát ra thì photon ở trạng thái cân bằng
với nhiệt độ trung bình cỡ 2.735k. Nhưng đến năm 1964, Arno Renzias và Robert Wilson
đã tìm thấy CMB với nhiệt độ 3.5k, và vào năm 1978 họ được trao giải thưởng
Nobel cho phát hiện chấn động giới thiên văn cũng như vật lý vào lúc đó.
Để đo được giá trị hằng số
của vũ trụ, vào năm 1968, Gabriel Veneziano người Ý đã tìm ra Lý Thuyết Dây (String
Theory). Nội dung của Lý Thuyết Dây là đi từ vật thể vĩ mô đến cấu trúc phân
tử, từ đó ông phân tích ra cấu trúc nguyên từ, chúng chia làm hai loại là hạt
nhân (gồm proton và neutron) và điện tử. Hạt nhân sẽ tiến tới hạt cơ bản rồi tới
Quark và thành hình nên dây. Dây như một khái niệm chỉ vật thể một chiều mà các
kiểu giao động khác nhau của nó hình thành các hạt cơ bản với các tính chất khác
nhau. Nhiều hạt cấu tạo nên một dây và chúng được mô tả trong không gian và thời
gian. Nhờ Lý Thuyết Dây mà Veneziano đã giải thích được các câu hỏi về tính tương
đối của tự nhiên, hiệu ứng lượng tử của lỗ đên (black hole), mở đường cho hướng
đi của cơ học lượng tử trong không gian, thời gian.
Không lâu sau, vào năm
1981, Alan Guth đã đề xuất thuyết Lạm Phát Vũ Trụ (Cosmic inflation) để giải thích
câu hỏi là tại sao vũ trụ phẳng và không đồng nhất? cũng như làm sao có thể
quan sát được các đơn cự từ. Sau đó, vào năm 1985 thì vệ tinh Cobe (Cosmic Background
Explorer) phóng lên quỹ đạo trái đất để đo phổ CMBB. Sau vệ tinh Cobe là hoàng
loạt các vệ tinh khác được phóng lên với độ chính xác cao hơn như WMAP (NASA),
PLANCK… Hubble vào năm 1998 đưa ra một nhận định là vũ trụ đang giãn nở tăng tốc,
cụ thể là Supernova Cosmology Project và High-z Suppernova. Cách chung, họ giải
thích là vũ trụ được hình thành và phát triết khoảng 13,7 tỷ năm dựa trên thuyết
Big Bag được đề ra vào thế kỷ XX. Trong thế kỷ XXI này, nhiều người cũng đặt ra
câu hỏi là “bản chất năng lượng tối là gì?” và “bản chất của trường inflaton là
gì?”
Những câu chuyện trên về
sự hình thành vũ trụ của chúng ta khá im lặng về vai trò của Đức Chúa Trời Đấng
Tạo Hóa trong câu chuyện khá kỳ diệu này về nguồn gốc của chúng ta. Đây cũng là
trường hợp khi họ mô tả các quá trình vũ trụ mà cuối cùng dẫn đến sự ra đời của
sự sống trên trái đất. Sự sống sinh học trên trái đất không thể xuất hiện nếu
các ngôi sao lớn trước đó không tạo ra - thông qua phản ứng tổng hợp hạt nhân
và sự phân hủy thảm khốc cuối cùng - carbon, oxy và sắt, như những thành phần
thiết yếu của sự sống. Từ thực tế này, các nhà vật lý thiên văn, như Stephen
Hawking, kết luận rằng vũ trụ của chúng ta, và có lẽ cả một số vũ trụ khác, đều
thân thiện với sinh học. Nhưng điều này không có nghĩa là cần phải có một Đức
Chúa Trời Đấng Tạo Hóa để lèo lái quá trình này. Đối với họ, việc đi đến một kết
luận như vậy bị loại trừ do có nhiều quá trình thử và sai ngẫu nhiên liên quan
đến việc hình thành chậm các bước chuẩn bị hướng tới sự xuất hiện của sự sống
thông minh trên trái đất.
Chính tại thời điểm này, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hình dung lại mối quan hệ của
Thiên Chúa Tạo Hóa với vũ trụ đang hình thành và đang phát triển. Việc
hình dung lại như vậy càng cấp thiết hơn khi người ta nhận ra rằng tảng đá phá
hủy mọi nỗ lực nhằm hòa hợp một vũ trụ tiến hóa với một Đức Chúa Trời Tạo Hóa
là khái niệm hữu thần cổ điển về một Đấng thiết kế Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời
của một vũ trụ đã được xác định trước. Tuy nhiên, tại sao lại bám vào khái niệm
về một Chúa định trước, Đấng loại trừ bất kỳ yếu tố ngẫu nhiên nào trong cấu tạo
của vũ trụ? Đã đến lúc trí tưởng tượng có thể hình dung ra một vị Chúa tạo ra một vũ trụ có khả
năng sáng tạo nội tại, trong đó cơ hội và kết quả ngẫu nhiên đóng một
vai trò quan trọng. Chúa hữu thần cổ điển đi đôi với một vũ trụ tĩnh tại. Tuy
nhiên, một khi vũ trụ của chúng ta được coi là không ngừng phát triển, thì vị
Thiên Chúa tĩnh tại đó phải được thay thế bằng Thiên Chúa Tạo Hóa, Đấng được hiểu
là rộng lượng đến mức cho phép tạo vật chia sẻ sự sáng
tạo của chính mình.
Bài tóm Cosmology 10.2023.
Đọc và tóm từ nhiều nguồn
khác nhau.
Minh Đức
SAINT
JOSEPH JESUIT SCHOLASTICATE VIETNAM PROVINCE OF THE SOCIETY OF JESUS
Understanding
the Nature and Purpose of Language from Wittgenstein's View
A Term
Paper submitted to the Course of Philosophy of Language at Saint Joseph Jesuit Scholasticate
presented
by
Joseph
Nguyễn Minh Đức, S.J.
supervised
by
Dr.
Remmon E. Barbaza
October, 2023
“The limits of my
language mean the limits of my world.”[i] Ludwig Wittgenstein
Perhaps rarely do we
question the origin and purpose of language. Normally, we often understand
language as a tool that helps us communicate daily with each other. However,
the main purpose of language is to communicate, and what is the true nature of
language? If we use language to communicate, why do people sometimes
misunderstand each other? When they do not understand each other, what do they
do to overcome that situation? This article will address those issues based on
the views of philosopher Ludwig Wittgenstein (1889-1951) in his work Tractatus
Logico Philosophicus.
Keywords
Language, World,
Wittgenstein.
When
we study language, many people agree that language is a tool for people to
communicate with each other. Indeed, we understand each other better through
communication through language. For example, when someone says something that
we hear and understand, as well as when they write words and we read and
understand the meaning of that message, it all flows from language. Of course,
it is also necessary to assume that we have learned and understood the language
well. For example, someone writes an English sentence, and because I have
learned English, I understand that sentence.
Many
people also consider language as a gift. Of course, we use this gift often in
our daily lives. It is even more important because, without language, it is
difficult for us to understand each other when communicating. It is through
language that we develop in many aspects, especially knowledge. An example is
when people invented writing around the 4th century BC. Then, people have
contributed to building and developing human civilization. It is through
language that good ideas are passed on to the next generation and thereby form
a unique culture. Therefore, language can be considered a special and unique
gift because it becomes a fundamental and decisive factor for human development
in all areas of society.
In
fact, language has many different forms, but all carry a certain socially
conventional meaning. For example, speech, writing, images, symbols, signs,
etc. are all used by humans to communicate and understand each other. However,
each form of language has different purposes and meanings. For example, symbols
are also an important form of language in our lives. For example, when
participating in traffic, we see a red light at an intersection, and that is
the sign that everyone agrees to stop moving, and when we see the green light
appear, we understand it as a sign that we are allowed to move. All of those
things are very real because they have meaning and are truths that most people in
society conventionalize and accept.
Language
is a means of thinking. With Wittgenstein, he argued that when I think in
language, I have no “meaning” in my mind other than verbal expressions. Speech
itself is a linguistic tool to express and express human thoughts. Wittgenstein
even believed that a picture is also a sign of truth; "a picture is a fact"[ii]
and “the world is the totality of facts, not of things”.[iii]
Wittgenstein's above argument may be correct because if an artist has ideas in
his mind and he realizes them through painting, then that is a very real thing.
Therefore, this world is also the sum of realized ideas.
Wittgenstein
believed that, problems related to philosophy in the phenomenal world are
solved logically and dialectically. Indeed, at the beginning of the Tractatus,
he assimilated the world with the proposition: the world is all that is the
case. At the same time, he also asserted that the subject does not belong to
the world; rather, it is the limit of the world. He sees something else, which
is ‘a sense of mystery about the world in general’. Anything that cannot be
proven to correspond to a certain observable reality, then it is something that
we cannot completely finally, he asserted ‘to imagine a language is to imagine
a form of life.’
As
for Noam Chomsky, he observes that “when we study human language, we are
approaching what some might call the ‘human essence.’”[iv] The special qualities of the mind are, as far
as we know, uniquely human and inseparable from any important phase of human
existence, individual or social. This means that it points to the cognitively
bound nature of language. Meanwhile, Gadamer first introduced this idea in the
third part of Truth and Method, in which he detailed his views on
language: “It is the medium of language alone that, related to the totality of
beings, mediates the finite, historical nature of man to himself and to the
world”[v].
With Wittgenstein, he admitted that language plays a very important and
dominant role in forming concepts when studying philosophy.
When
studying linguistic philosophy, everyone acknowledges the basic nature of
language, which always begins and is built on three basic aspects: vocabulary,
phonetics, and grammar. At the same time, language often has a structure
consisting of three elements: sign language (morphology), structural language
(syntax), and meaning language (semantics). However, using language fluently
and communicating perfectly is not easy for some people. Therefore, many times
people communicate without understanding each other, leading to
misunderstandings and conflicts. To deal with the complexity of language,
Wittgenstein proposed that we must use language logically, meaning that spoken
or written sentences must be semantically clearer and more useful.
In
Tractatus Logico Philosophicus, Wittgenstein writes: “A state of affairs
is a combination of objects.”[vi]
Indeed, he believed that the world is a combination of facts, whereas truth is
a combination of objects. World = events + events and event = objects + objects.
And they are combined together. So language comes with the world and words and
labels come with things. Wittgenstein believed that humans are oriented toward
objects (property), which contrasts with the idealism in which Russell believed
that 'nothing exists independently'.
When
discussing objects, Wittgenstein conceives that “objects are simple.”[vii]
and that, in fact, “things are independent in so far as they can occur in all
possible situations, but this form of independence is a form of connection with
states of affairs, a form of dependence.”[viii]
He believes that the basis for forming linguistic concepts is when the mind
moves into conceptual space and the conceptualization of the world. Indeed,
““if the world had no substance, then whether a proposition had sense would
depend on whether another proposition was time.”[ix]
Therefore, we see that Wittgenstein's logical system has a triadic nature:
thought-world-languages are directly related to each other. For example, if we
say ‘an orange on the table’ then it is true; but if you say "orange is comfortalbe",
this statement will be meaningless because there are many interpretations.
Thus, Wittgenstein concludes: “Language is a part of our organism and no less
complicated than it.”
In
fact, when we use language to communicate, specifically words, writing, or
symbols, they must be meaningful and understandable, not how we feel and
express them specificall vague about it with the words are poverty and lack of meaning.
Therefore, Wittgenstein believes that misunderstanding how language works will
lead to this life being full of artificiality. He explains that “the limits of
my language mean the limits of my world.”[x] Therefore,
he suggested that everyone should pay attention to the meaningless things in
themselves, and the most necessary thing in daily communication is that we use
words more accurately and clearly, and that is the way we study philosophy.
Finally,
Wittgenstein says: “My propositions serve as elucidations in the following way:
anyone who understands me eventually recognizes them as nonsensical when he has
used them as steps to climb up beyond them. (He must, so to speak, throw away
the ladder after he has climbed up it.) He must transcend these propositions,
and then he will see the world aright.”[xi]
Therefore, ‘the effort of philosophy is to eliminate oneself and liberate’.
With Wittgenstein’s final thesis in Tractatus Logico Philosophicus, he
determined the nature of language, finally finding the origin of silence. He
writes “language of being is big silent” and in the reality of our daily lives,
it is very true to say that “nature likes to hide”. According to Wittgenstein,
silence is the origin of language, and “what we cannot speak about we must pass
over in silence.”[xii]
As
Stephen Hawking (1942-2018) said, the only remaining task of philosophy is the
analysis of language, and Wittgenstein said: "Philosophical criticism is
linguistic criticism." [xiii] He argues that philosophy
is the fight against the bewitchment of our intelligence by the use of
language. And that lesson is worth repeating every day, if not every hour, so
that we understand that the relationship between language and the world is not
as simple as what we encounter every day. Therefore, Wittgenstein frankly
revised the analytical perspective, breaking down language into propositions to
penetrate the nature of existence and complexity in the language. So every time
we encounter this problem, we have to “find the difference between each clause"[xiv] and we use words more accurately and
clearly to express it better.
Ludwig Wittgenstein, Tractatus Logico
Philosophicus, Translation by D. F. Pears & B. F. McGuinness, New York:
The Humanities Press,
Noam Chomsky, Language
and Mind, Third Edition, Cambridge University Press, 2000, 88
Hans-Georg Gadamer, Truth
and Method, Second, Revised Edition, Translation revised by Joel
Weinsheimer and Donald G. Mars, 2004, 454
[i] Ludwig Wittgenstein, Tractatus
Logico Philosophicus, Translation by D. F. Pears & B. F. McGuinness,
New York: The Humanities Press, n.5.6, 115
[ii] Ludwig Wittgenstein, Tractatus
Logico Philosophicus, Translation by D. F. Pears & B. F. McGuinness,
New York: The Humanities Press, n.2.141, 15
[iii] Ibid. n. 1.1, 7
[iv] Noam Chomsky, Language
and Mind, Third Edition, Cambridge University Press, 2000, 88
[v] Hans-Georg Gadamer, Truth
and Method Second, Revised Edition,
Translation revised by Joel Weinsheimer and Donald G. Mars, 2004, 454
[vi] Ludwig Wittgenstein, Tractatus
Logico Philosophicus, Translation by D. F. Pears & B. F. McGuinness,
New York: The Humanities Press, n.2.01, 7
[vii] Ibid, n.202, 11
[viii] Ibid, 2.0122, 9
[ix] Ibid, 2.0211, 11
[x] Ibid, 5.6, 115
[xi] Ibid, n. 6.54, 151
[xii] Ibid, n. 7, 151
[xiii] Ibid, n. 4.0031. 37
[xiv] Ibid, n. 3.3442