Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

BÀI VIẾT CUỐI KHÓA MÔN KITÔ HỌC: ĐỨC GIÊSU LÀ AI

 

BÀI VIẾT CUỐI KHÓA MÔN KITÔ HỌC: ĐỨC GIÊSU LÀ AI?





Đức Giêsu là ai?” có lẽ là câu hỏi được rất nhiều người ở mọi thời và mọi nơi đặt ra. Nhiều người đã thắc mắc: tại sao những tín hữu của Kitô Giáo lại đi thờ phượng một người chết trần trụi, nhục nhã trên thập giá? Đang khi đó, những tôn giáo bạn như: Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo…họ tôn thờ những Đấng Sáng Lập tôn giáo của họ với hình tượng vui vẻ, ung dung, tự tại, điềm đạm và siêu thoát. Có lẽ câu trả lời chỉ được tìm thấy trong Kinh Thánh của Kitô Giáo, đặc biệt trong Tân Ước của Công Giáo. Nơi đó họ sẽ thấu hiểu rõ hơn về Đức Giêsu Kitô với nhiều khía cạnh phong phú khác nhau.

Thật vậy, Kinh Thánh đã không ít lần đề cập đến câu hỏi về Đức Giêsu: “
Người này là ai?”. Khi mới theo Đức Giêsu, các môn đệ khá ngỡ ngàng vì những hành động lạ lùng của Thầy mình, Ngài đã đi trên mặt biển đến với họ (Mt 14,25), và dẹp yên giông bão trước mặt họ (Mc 4,41). Người Pharisiêu đã tự hỏi với nhau: “Người này là ai?” mà dám nói: “Tội chị đã được tha” (Lc 7,49). Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: "Ông này là ai vậy?" (Mt 21,10). Ngay cả vua Hêrôđê cũng phân vân về Đức Giêsu và nên mới nói: "Ông Gioan, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế! Rồi vua tìm cách gặp Đức Giêsu.” (Lc 9,9).

Dĩ nhiên, có nhiều người đã phỏng đoán về Đức Giêsu như là: “
Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, có người lại cho là Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ” (Mc 16,13), cũng có nhiều người mạnh dạn tuyên bố: Đức Giêsu như là một người làm phép lạ. Quả đúng như họ nói, Đức Giêsu đã làm phép lạ, nhưng phải chăng Ngài chỉ đến trần gian này để làm phép lạ? Không một câu trả lời rõ ràng mang tính thuyết phục nào được đưa ra. Ngài thực sự là ai? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh dung mạo đích thực của Đức Giêsu như là một Con Người thật và là Con Một Thiên Chúa.

I. ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI THẬT.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận Đức Giêsu là một con người thật. Ngài có “tên là Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét” (Ga 1,45) và “bà Maria là thân mẫu của Ngài” (Mc 6,3). Ngài cũng có những đặc tính, phẩm vị như một con người bình thường. Thật vậy, “Cậu Giêsu đã lớn lên trong khôn ngoan, trong vóc dáng, và trong ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Đức Giêsu được giáo dục trong một môi trường như bao đứa trẻ đương thời, và có lẽ Ngài thường xuyên đến hội đường để học hỏi về Lề Luật, Kinh Thánh, nên Ngài mới thủ đắc và thông thái được nhiều kiến thức trên nhiều bình diện (Lc 2,46-47). Thế nhưng, Ngài không hề xa lạ, ngược lại rất tự nhiên và gần gũi với mọi người ngang qua nhiều hình ảnh và cách thức khác nhau.

Đức Giêsu gần gũi với mọi người. Đức Giêsu đã âm thầm sinh ra trong cảnh cơ bần, nơi hang lừa máng cỏ (Lc 1,7), và rất gần gũi với những người chăn chiên sống ngoài đồng. Trong khoảng ba mươi năm, Ngài sống khiêm cung, ẩn dật tại làng Nadarét, nơi mà Nicôđêmô đã nói: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1,46). Khi bắt đầu công khai sứ vụ, Ngài đã rao giảng Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi thành phần trong dân chúng bất kể giàu nghèo, sang hèn, đàn ông đàn bà, người già người trẻ, người khỏe người đau…, và đặc biệt, Ngài đã tuyển lựa mười hai môn đệ là những người bình dân, ít học (Mc 1,16-20; Lc 5,1-11). Người yêu quý các người tội lỗi (Lc 15,2, Mt 11,19), Ngài chữa lành hết tất cả bệnh hoạn tật nguyền trong dân chúng, Ngài gần gũi với những người nghèo hèn, bệnh tật, gúa bụa, phụ nữ và trẻ em (Mc 10,16; Mt 19,13-14; Lc 18,15-16).

Đức Giêsu là một Rápbi. Khi Đức Giêsu khi bắt đầu sứ vụ công khai loan báo Tin Mừng, Ngài đã tuyển lựa, thâu nhận các môn đệ đầu tiên, và đường lối sư phạm của Ngài khác hẳn các kinh sư và người biệt phái. Ngài thường dùng các dụ ngôn để giảng dạy (Mt 13,3), và kiên nhẫn với các học trò (Mc 6,52; 8,17), có đôi khi, Người nghiêm khắc lên án những thói hư tật xấu của giới lãnh đạo dân chúng (Mt 6,2.5.16; Lc 6,42). Cách thức giáo dục của Ngài làm cho đa phần dân chúng yêu thích, vì “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.” (Mc 1,22). Thẩm quyền nơi vị Rápbi Giêsu này có thể thấy đó là: các Luật Sĩ, Kinh Sư, Pharisêu dạy dân chúng theo luật Môsê (Mt 19,7), luật của Cựu Ước; thế nhưng, Đức Giêsu khác hẳn với họ, Ngài lấy quyền của mình mà giảng dạy: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng:…Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết:…” (Mt 5,21-22).

Đức Giêsu là một ngôn sứ. Đức Giêsu cũng như các vị tiên trị khác trong Cựu Ước, thậm chí còn trổi vượt hơn họ, Ngài có trí hiểu thấu thị tương lai và tâm hồn con người, “Đức Giêsu thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy?” (Mc 2,8). Ngài có khả năng tiên đoán trước các sự kiện gần xảy ra, thật vậy có lần Ngài nói: “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây” (Mc 11,2). Chỗ khác thì “Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn:"Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?” (Mc 13,13-14). Một tiên thị khác Đức Giêsu đã tiên báo cho các môn đệ là: Ngài sẽ bị nhạo báng, khạc nhổ, đánh đòn và giết chết, nhưng sau ba ngày Ngài sẽ sống lại (Mc 10,33; Mc 6,15; 8,27-28). Đối với các môn đệ trên đường Emmau, họ cho rằng: “Đức Giêsu Nadarét là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” (Lc 24,19). Nói tóm lại, Đức Giêsu đã được dân chúng xem như một ngôn sứ siêu việt thực thụ (Mc 6,15; 8,27-28).

Đức Giêsu cần những nhu cầu như chúng ta. Nhu cầu ăn uống. Đã mang thân phận con người, Đức Giêsu cũng có những nhu cầu vật chất như chúng ta. Ngài cũng cảm thấy mệt, thấy đói như mọi người (Mt 4,2; Lc 4,2). Thật vậy, đang khi Thầy trò đi đường, ngang qua vùng Samari, “Ở đấy,có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (Ga 4,6-8). Đức Giêsu đã xin nước uống từ người phụ nữ Samari ở bờ giếng đó (Ga 4,7). Lúc khác đi đường, Đức Giêsu cũng cảm thấy đói mệt, “ khi thầy trò rời khỏi Bêtania, thì Đức Giêsu cảm thấy đói. Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không.” (Mc 11,12-13). Nhu cầu nghỉ ngơi. Đức Giêsu cũng cần có thời gian để ngủ nghỉ, và có lẽ giấc ngủ của Ngài khá ngon giấc. Tin Mừng thuật lại cho chúng ta: “một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.” (Mc 4,37-38). Nhu cầu chia sẻ. Khi lòng đầy ắp tình yêu và thánh Ý Chúa Cha, Đức Giêsu khát mong chia sẻ những điều quý giá, những giá trị mới của Nước Trời, những điều đích thực, "Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe…” (Mt 13,16-17). Vì thế, Đức Giêsu thường xuyên giảng dạy cho dân chúng, lúc ở trên núi (Mt 5), lúc ở bờ biển, thật vậy, “từ xứ Iđumê, từ vùng bên kia sông Giođan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xiđôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn.” (Mc 3,8-10). Nói chung, Đức Giêsu khát khao chia sẻ nhiều điều cho con người: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16,12).

Đức Giêsu cũng có những cung bậc cảm xúc. Đức Giêsu có đời sống như một người bình thường với đầy đủ cung bậc cảm xúc (thất tình: hỉ, nộ, ai, ái, ố, dục, cụ). Kinh Thánh đã thuật lại cho chúng ta thấy: có những khi Ngài vui mừng hớn hở cầu nguyện với Chúa Cha (Lc 10,21); có lần Ngài xao xuyến trước cái chết của người bạn thân Lazarô (Ga 11,35) và thậm chí trước cái chết của con trai bà góa thành Nain (Lc 7,13); một lần nọ Ngài khóc thương thành Giêrusalem (Lc 13,34-35); có những lúc Ngài tỏ vẻ tức giận, vì một số người cứng lòng tin (Mc 3,5). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài cảm thấy buồn sầu, xao xuyến (Mc 14,33-34); đôi lúc Ngài cảm thấy cô đơn, dường như bị Chúa Cha bỏ rơi (Mc 15,34).

Đức Giêsu là người giàu lòng thương xót. Trong bài giảng trên núi với tám mối phúc, trong đó Đức Giêsu đã đề cập đến mối phúc: “Phúc thay ai biết xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Thế nên, trong cuộc sống thường nhật, Đức Giêsu cũng rộng tay thi thố tình yêu vô bờ của Thiên Chúa cho tha nhân (Mt 9,27; Mt 17,15). Quả thật, điểm nổi bật nơi Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày đó là lòng thương xót, Ngài thường “chạnh lòng thương” dân chúng (Mt 9,36; Mt 14,14; Mt 18,17; Mc 1,41; Mc 6,34; Mc 8,2; Mc 9,22; Mc 20,34; Lc 7,13; Lc 10,33). Với một lẽ dĩ nhiên, lòng thương xót và tình yêu thương con người luôn là nét nổi bật nơi Đức Giêsu, và Ngài thường diễn tả trọn vẹn trong đời sống hằng ngày với mọi người ở mọi thời và mọi nơi (Ga 11,3; Ga 11,5; Ga 11,36; Ga 13,1; Ga 15,15).

Đức Giêsu cũng bị cám dỗ như chúng ta. Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu vào hoang địa ăn chay và cầu nguyện. Sau đó, Ngài bị ma quỷ cám dỗ (Mc 1,13). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài cũng bị ma quỷ cản bước “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,23). Trên thập giá, Đức Giêsu cũng bị cám dỗ để chứng minh quyền lực của mình, danh dự với lời nói của mình, “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40); “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ítraen! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: "Ta là Con Thiên Chúa!" Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.” (Mt 27,42). Quả nhiên, đó là những cám dỗ khốc liệt với Đức Giêsu, bởi vì họ dựa vào lời Ngài đã nói, và muốn Ngài chứng thực lời nói đó. Nói chung, Đức Giêsu cũng giống như chúng ta là những con người yếu đuối, thường bị thế lực ma quỷ cám dỗ, nhưng Đức Giêsu đã vâng lời Chúa Cha, đã nêu gương cho chúng ta, nên Người đã vượt thoát được mọi cơn cám dỗ, thậm chí Người đã chiến thắng tử thần.

Đức Giêsu đã chịu đau khổ tột cùng. Ngài đã bị dân chúng chống đối khi rao giảng Tin Mừng, các phe thượng tế, kỳ mục, Pharisêu và kinh sư…đã bàn bạc với nhau để tìm kế giết Đức Giêsu (Ga 5,16; Mt 12,14; Mt 26,1-5; Mc 11,18; Ga 11,1). Đỉnh cao của đau khổ mà Đức Giêsu phải chịu đó là cuộc khổ nạn. Đức Giêsu đã chịu nhiều đau khổ trong cuộc khổ nạn bởi bao đòn roi (Mt 26,67-68; Mc 14,65 ), xỉ nhục, khinh chê (Mt 27,37-44; Mc 15,26-32 ) và bị xem là tên bị Thiên Chúa nguyền rủa (Đnl 21,23). Bên cạnh đó, một nỗi đau đớn khác trong tâm can là khi bị chính môn đệ thân tín của mình phản bội (Mt 26,72); dưới chân thập giá, Ngài chẳng thấy môn đệ thân thương nào cận bên. Đau khổ kế tiếp Ngài phải chịu là: “vác thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá” (Ga 19,17-18). Điều bi tráng hơn nữa, là nỗi cô đơn bao phủ lấy tâm hồn Ngài, khi Ngài cảm thấy vắng bóng Chúa Cha, đến nỗi Ngài phải thốt lên: “Êlôi, Êlôi, lama xabácthani! Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? "” (Mc 15,34). Tựu chung, nỗi đau khổ Đức Giêsu chịu là có thật và thật đến mức tận cùng của khổ đau.

Như vậy, ngang qua các trích dẫn Kinh Thánh trên, chúng ta có thể hiểu biết thấu triệt và khẳng định minh nhiên rằng: Đức Giêsu là một con người thật, Ngài đã sống cuộc đời dương thế như chúng ta với những phẩm tính rất người. Vậy Đức Giêsu có là ai khác không? Chúng ta cùng tìm hiểu trong đề mục dưới đây.

II. ĐỨC GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA

Đức Giêsu là một con người thật, vậy tại sao các tín hữu Kitô Giáo lại gọi Ngài là Chúa Giêsu Kitô? Phải chẳng Ngài là Thiên Chúa thật? Chúng ta cùng làm rõ ý niệm này trong các diễn giải tiếp theo.

Đức Giêsu mạc khải Ngài là Con Một của Thiên Chúa Cha. Ngay từ nhỏ, Đức Giêsu đã ý thức được thân phận của mình là thuộc về Chúa Cha khi Ngài nói: “sao cha mẹ lại tìm con, Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49). Lớn lên khi vào đền thờ Giêrusalem, và thấy đền thờ bị xúc phạm Ngài đã xua đuổi mọi kẻ buôn bán trong đó và lớn tiếng rằng: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán." (Ga 2,16). Ngài đã mạc khải cho các môn đệ biết về nhà Cha Ngài, “trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.” (Ga 14,2). Đức Giêsu cũng thường xuyên gọi Thiên Chúa là “Ápba!” (Cha ơi!), đặc biệt trong những lúc Ngài cầu nguyện: “vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha.” (Mt 11,25); “Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: "Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con.” (Ga 11,41). Dĩ nhiên, Đức Giêsu cũng dạy các môn đệ cầu nguyện thân thưa với Chúa Cha rằng: “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:"Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời” (Mt 6,9). Có những lúc, Đức Giêsu khẩn thiêt kêu cầu Cha, đặc biệt là lúc trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Ápba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn”(Mc 14,36). Khi bị những tên lính đóng đinh vào thập giá, đau đớn vô cùng, thay vì buông ra một lời nguyền rủa, trách móc…Đức Giêsu đã khẩn khoản xin Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34). Đến lúc, biết mình sắp lìa bỏ thế gian, để về cùng Cha, Đức Giêsu đã thốt lên: “Lạy Cha! Con phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Nói chung, Đức Giêsu luôn ý thức mình là Con Một Thiên Chúa, và Thiên Chúa đó là Cha, thế nên khi đứng trước thượng hội đồng, nhóm thượng tế, kinh sư liền hỏi Đức Giêsu “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?" Người đáp: "Đúng như các ông nói, chính tôi đây."” (Lc 22,70).

Tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Dân chúng tuyên xứng. Dọc quãng đường rao giảng Tin Mừng, dân chúng chắc hẳn đã nhận định về con người Đức Giêsu. Thế nên, “khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai? Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ." Đức Giêsu lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? " Ông Simôn Phêrô thưa: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16,13-15). Quả nhiên, sau đó Đức Giêsu đã khen Phêrô vì chính Chúa Cha đã mạc khải căn tính của Ngài cho ông. Không chỉ có Phêrô, hai chị em Maria và Mácta cũng đã tin nhận Đức Giêsu là con Thiên Chúa, khi Đức Giêsu hỏi chị có tin Ngài không? Chị đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian." (Ga 11,27). Trong cuộc khổ nạn, trên Núi Sọ, viên đại đội trưởng, người đứng đối diện với Đức Giêsu và trông thấy Ngài trút hơi thở cuối cùng, nên đã nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ma quỷ tuyên xưng. Không chỉ dân chúng tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, mà ngay cả ma quỷ cũng phải công nhận điều này. Thánh sử Máccô và Luca đã thuật lại: “Một người bị quỷ nhập la lên: Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông?” (Mc 5,6-7, Lc 8,28). Thậm chí, có lúc quỷ còn thử thách Đức Giêsu khi nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!” (Mc 4,3).

Đức Giêsu được gọi là Thiên Chúa. Có một số đoạn Tin Mừng, Đức Giêsu hầu chắc được gọi là Thiên Chúa, ví dụ như: Ga 1,18; Tt 2,13; Rm 9,5; 1Ga 5,20; 2 Pr 1,1. Thánh Gioan Tông Đồ đã xác quyết ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” (Ga 1,1), và “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.” (Ga 1,18). Mặt khác, chúng ta có thể thấy khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với nhóm Mười Một, khi có ông Tôma, Đức Giêsu cho ông xem dấu đinh ở chân tay và cạnh sườn Người, ông đã hoảng hốt tuyên tín: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Trong lần rao giảng đầu tiên, sau khi Đức Giêsu phục sinh, thánh Phêrô đã tuyên bố: “toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô.” (Cv 2,36). Nhờ Thánh Thần thúc đẩy, các tông đồ được mạnh dạn rao giảng, tuyên xưng về Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đến để cứu độ nhân loại, thật vậy, danh xưng "Chúa Giêsu" nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Đức Giêsu là Chúa có nghĩa là tin vào thiên tính của Người, và dĩ nhiên: “Nếu không được Thánh Thần giúp sức, không ai có thể nói: Giêsu là Thiên Chúa." (l Cr 12,3).

Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã sống mầu nhiệm tự hủy. Thánh Phaolô đã diễn tả trong thư Philipphê về sự tự hủy (Kenosis) của Đức Giêsu Kitô: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6-7) . Vậy, phải chăng Chúa Giêsu Kitô đã giấu ẩn thiên tính (thần tính Thiên Chúa) của mình mà mặc lấy nhân tính như con người khi sống ở trần gian này? Đúng vậy, “trong thân phận làm người, Con Thiên Chúa quyết định từ bỏ việc sử dụng đặc quyền và quyền năng của Thiên Chúa, để trong thời gian sống nơi trần thế, Ngài có thể sống trong những giới hạn cần thiết thuộc về sự hữu hạn loài người.”1 Với mầu nhiệm Nhập Thể là mầu nhiệm tự hủy khi Người Con trút bỏ vinh quang thần linh (Pl 2,6), trở nên nghèo hèn, mặc dù Ngài vốn giàu sang (2Cr 8,9) nhưng vấn đến để chia sẻ thân phận làm người của chúng ta với tất cả những gì là bấp bênh và rủi ro của phận người.

III. ĐỨC GIÊSU VỪA LÀ NGƯỜI THẬT VỪA LÀ THIÊN CHÚA THẬT.

Dẫu biết rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, Ngài cao siêu tuyệt hảo trên mọi tạo vật thế nhưng Ngài cũng rất gần gũi với chúng ta là những con người mọn hèn và thậm chí còn gọi chúng ta là bạn (Ga 15,15), bởi lẽ chính Ngài cũng đã làm người như chúng ta.

Chúa Giêsu chia sẻ thân phận làm người với chúng ta. Thiên Chúa thấy con người sa vào tội lỗi và trầm luân ê chề trong cảnh đọa đày, với tình yêu vô bờ bến, Thiên Chúa đã quyết định cứu chuộc con người. Dĩ nhiên, Thiên Chúa có thể phán một lời là cả vũ hoàn mọi thời và mọi nơi được sạch hết muôn vàn tội lỗi, và được cứu rỗi. Thế nhưng, làm như thế chẳng thể nào diễn tả hết tình yêu cao vời của Thiên Chúa, và con người cũng chẳng cảm nếm được gì. Do đó, “tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống”(1 Ga 4,9). Quả thật, để chúng ta được sự sống đời đời, Đức Giêsu đã xuống thế làm người như chúng ta, và “vì con cái thì đều chung một huyết nhục, nên Đức Giêsu đã cùng mang lấy huyết nhục đó” (Dt 2,14). “Gần như suốt đời, Đức Giê-su đã chia sẻ thân phận của đại đa số loài người: một cuộc sống thường nhật, bề ngoài không có gì là vĩ đại, với lao động tay chân; một đời sống tôn giáo Do Thái phục tùng Luật Thiên Chúa (x.Gl 4,4), đời sống trong cộng đồng. Về giai đoạn này, chúng ta được biết rằng Đức Giêsu "vâng phục" cha mẹ và "ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến" (Lc 2, 5l-52).”2

Đức Giêsu chấp nhận những giới hạn của phận người. Một khi đã mang thân phận làm người, Đức Giêsu chấp nhận những giới hạn bởi không gian và thời gian, phong hóa, tri thức nhân loại, bởi vì “Ngôi Lời đã làm người bằng cách đảm nhận một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Kitô cũng bị giới hạn”3. Có đôi khi người ta quá nhấn mạnh đến thần tính của Đức Giêsu với cái giá là nhân tính trọn vẹn của Ngài. Đây là những gì Rahner đã gọi là “lạc thuyết nhất tính tiềm tàng” nơi mà thần tính và nhân tính của Đức Giêsu đã được hợp nhất vào “bản tính” thứ ba, hoặc bản tính nhân loại nơi Đức Giêsu được hòa lẫn vào bản tính thần linh của Ngài giống như một giọt nước trong đại dương.

Đức Giêsu có hai bản tính: Nhân Tính và Thiên Tính. Giáo Hội luôn tuyên tín rằng Đức Giêsu có hai bản tính đó là nhân tính và thiên tính. Hai bản tính này:không lẫn lộn, nhưng hợp nhất trong ngôi vị duy nhất của Con Thiên Chúa4. Về nhân tính, "Đức Giêsu đã đảm nhận không hề tách Người khỏi Chúa Cha. Người là Con của Chúa Cha theo thiên tính, là con của Mẹ Maria theo nhân tính, nhưng là Con của Thiên Chúa theo hai bản tính"5. Vậy, vấn đề được đặt ra, đã mang thân phận làm người với những yếu đuối, dễ dàng sa ngã vào tội lỗi, vậy Đức Giêsu có phạm tôi hay không ?

Câu trả lời là: Đức Giêsu mang thân phận con người, với nhân tính thực thụ Ngài vẫn cảm thấy tức giận trước những sai phạm của con người, nhưng cơn giận của Ngài là cơn giận thánh, vì sự thánh thiện và mưu ích cho con người. Dĩ nhiên, Đức Giêsu vẫn cảm thấy sợ hãi trước cái chết… nhưng Ngài không bỏ cuộc, Ngài bị ma quỷ cám dỗ…nhưng Ngài không hề phạm tội (Dt 4,15). Bởi lẽ, tội mới gây nên sự chết (Rm 5,12), thế nên Chúa Giêsu không phạm tội chỉ vì vâng phục thánh ý Chúa Cha (Mt 26,42), Ngài chấp nhận chết trên thập giá để cứu độ con người ngõ hầu nhờ nhân tính này Ngài đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của "Đấng khơi nguồn sự sống" (Cv 3,15), "Đấng hằng sống" (Kh 1,17; Ga 1,4;5,26). Tựu chung, Đức Giêsu giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, thế nên, sự hoàn hảo trong nhân tính của Đức Giêsu được diễn tả trong việc Ngài không phạm tội (Ga 8,46; 14,30; 2 Cr 5,21; 1 Pr 2,22; Dt 4,15). Công đồng Constantinople II (533) chống lại Theodore (lạc thuyết) của Mopsuestia, người đã khẳng định rằng Đức Kitô chỉ trở nên hoàn hảo sau khi Phục Sinh.
6

Những Lạc Thuyết về Nhân Tính và Thiên Tính của Đức Giêsu Kitô. Trải qua nhiều thế kỷ, thời Giáo Hội sơ khai đã xuất hiện nhiều lạc thuyết thiên lệch ca ngợi về nhân tính hoặc thiên tính của Đức Giêsu cách thái quá hoặc sai lệch tín lý. Cụ thể như sau:

Chối bỏ nhân tính Đức Giêsu. Chúng ta phải kể để các lạc thuyết của nhóm Ngộ đạo, vì phủ nhận nhân tính hơn là chối bỏ thiên tính của Đức Kitô (Ảo thân thuyết). Thật vậy, “ngay từ thời các tông đồ, đức tin Kitô Giáo nhấn mạnh đến việc nhập thể đích thực của Con Thiên Chúa "đến trong xác phàm" (1 Ga 4,2-3; 2 Ga 7). Nhưng từ thế kỷ thứ III, Hội Thánh trong Công Đồng họp tại thành Antiôkia phải khẳng định chống lại Phaolô thành Xamoxatê, rằng : Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa do bản tính chứ không phải do được nhận làm nghĩa tử. Công Đồng chung thứ I, họp tại Nixêa vào năm 325, tuyên xưng trong kinh Tin Kính rằng : Con Thiên Chúa "được sinh ra chớ không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha"; và kết án Ariô là người cho rằng "Con Thiên Chúa đã xuất tự hư không" (x. DS l30 và "có một bản thể khác với Chúa Cha" (DS 126)7. Chưa dừng lại ở đó, vào thế kỷ thứ V, một nhóm lạc thuyết Nhất Tính định tín: trong Đức Kitô, bản tính con người đúng nghĩa không còn tồn tại vì được ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận, nghĩa là Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, đã “đội lốt” người phàm nhằm mượn xác con người để cứu độ con người. Để chống lại lạc thuyết này, “Công Đồng chung thứ IV, họp tại Canxêđônia năm 451, tuyên xưng: "Cùng với các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy và tuyên xưng Một Ngôi Con Duy Nhất, Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, trọn vẹn trong thiên tính và trọn vẹn trong nhân tính, đích thực là Thiên Chúa và đích thực là người, gồm một linh hồn và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha theo thiên tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, "giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi" (Dt 4,l5), được Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời theo thiên tính, và trong thời sau hết này, vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, theo nhân tính.”8 Vào thế kỷ thứ VI, sau Công Đồng Canxêđônia một số người biến nhân tính của Đức Kitô thành một chủ thể hữu ngã. Công Đồng chung thứ V, họp tại Contantinopôli năm 553, tuyên xưng chống lại họ: "Chỉ có một ngôi hiệp (hay ngôi vị) duy nhất, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Một trong Ba Ngôi" (x.DS 424). Như vậy, tất cả những gì thuộc nhân tính của Đức Kitô, không chỉ các phép lạ, nhưng cả những đau khổ và cái chết (x.DS 424 ) đều thuộc về Ngôi Vị Thiên Chúa của Người như chủ thể riêng của chúng9: "Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng bị đóng đinh vào thập giá nơi thân xác, là Thiên Chúa thật, là Đức Chúa vinh quang và là một trong Ba Ngôi chí thánh" (DS 432)10.

Chối bỏ thiên tính Đức Giêsu. Có nhiều lạc thuyết cho rằng Đức Giêsu là một con người thuần túy, được kết hợp với ngôi vị thần linh nên mới là Thiên Chúa, đó chính là lạc thuyết Néttôriô. Để chống lại lạc thuyết này, “Thánh Xyrilô thành Alêxanria và Công Đồng chung thứ III họp tại Êphêsô năm 43l đã tuyên xưng : "Ngôi Lời đã làm người khi kết hợp trong ngôi vị mình một thân xác do một linh hồn làm cho sống động" (x. DS 25O). Nhân tính của Đức Kitô không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng từ lúc tượng thai đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình. Về vấn đề này, Công Đồng chung Êphêsô năm 43l công bố rằng: Đức Maria thực sự trở thành Mẹ Thiên Chúa qua việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ. "Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, không phải vì Ngôi Lời đã nhận thiên tính của Người từ nơi Mẹ, nhưng vì chính từ Mẹ mà Người đã nhận được một thân xác thánh thiêng có linh hồn; Ngôi Lời đã liên kết với thân xác ấy ngay trong ngôi vị của mình, vì thế chúng ta nói : "Ngôi Lời đã sinh ra làm người " (DS 25l)”11. “Trong cùng một Đức Kitô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất" (DS 30l-302). Thánh Phaolô đã kết luận về Đức Giêsu như sau: "tất cả sự viên mãn của thiên tính hiện diện cách cụ thể nơi Người" (Cl 2,9).

Như thế, Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, nhưng vẫn luôn là Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Phụng vụ Rôma ca mừng : "Trước sau Người vẫn là Thiên Chúa nhưng Người đã nhận lấy thân phận thế nhân"
12. Bản phụng vụ theo thánh Gioan Kim Khẩu hân hoan công bố: "Ôi lạy Con Một duy nhất và là Ngôi Lời Thiên Chúa, vốn là bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Ngài đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Maria, mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh. Ngài vẫn là Thiên Chúa nhưng đã làm người và đã chịu đóng đinh vào thập giá, ôi lạy Đức Kitô Thiên Chúa, Ngài đã dùng cái chết của mình mà đập tan sự chết, Ngài là một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con" ( Đoản khúc "Ôi Lạy Con Một Thiên Chúa ")13.

Chúa Giêsu đã làm người để con người được vươn lên cùng Thiên Chúa. Khi nói về nhân tính của Đức Giêsu chúng ta phải thừa nhận rằng: Nhân tính Đức Giêsu là một yếu tố thiết yếu trong việc liên tục hình thành nên người Kitô hữu qua đời sống của họ. Vì nếu Chúa Giêsu không làm người thì con người không thể vươn lên cùng Thiên Chúa, ngược lại, chính Chúa Giêsu đã làm người, sống thân phận như chúng ta, ngõ hầu chúng ta có thể nhờ Ngài mà vươn lên cùng Thiên Chúa, bởi vì chính Ngài là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. (Ga 14,6).

Các thánh giáo phụ đã nói về việc con người thông dự vào thiên tính của Thiên Chúa ngang Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể như sau: Ngôi Lời đã làm người để chúng ta được
"thông phần bản tính Thiên Chúa" (2 Pr l,4); "Ngôi Lời làm người, Con Thiên Chúa làm con loài người: chính là để cho con người, khi kết hợp với Ngôi Lời và lãnh nhận từ hệ thần linh, được trở nên con cái Thiên Chúa"14; "Vì Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa"15; "Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được thông phần thiên tính của Người, nên đã mang lấy bản tính chúng ta, để vì đã làm người, Người biến chúng ta thành thần thánh"16.

Tựu chung, Hội thánh đã phải bảo vệ và minh giải chân lý đức tin: “
Đức Giêsu làm người những vẫn là Thiên Chúa” suốt những thế kỷ đầu tiên để chống lại các lạc thuyết. Hiển nhiên: “Con Thiên Chúa nhập thể, là biến cố độc nhất vô nhị, sự kiện nầy không có nghĩa là Đức Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của sự pha trộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người thật sự đã làm người mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật17.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là: liệu rằng sau khi phục sinh, nhân tính của Đức Giêsu Kitô sẽ như thể nào? Vì khi còn sống ở trần gian với nhân tính Ngài phụ thuộc không gian và thời gian, phong hóa, tri thức nhân loại, nên khi sau khi phục sinh, Ngài còn bị giới hạn hay không? Chúng ta cùng làm rõ trong phần dưới đây.

Trạng thái nhân tính của Đức Giêsu Phục Sinh18. Đức Giêsu phục sinh có những tương quan trực tiếp với các môn đệ của Ngài, qua tiếp xúc (Lc 24,39; Ga 20,27) và việc chia sẻ bữa ăn (Lc 24,30.41- 43; Ga 21,9.13-15). Nhờ đó, Ngài muốn cho họ thấy Ngài không phải là ma (Lc 24,39), và thân xác phục sinh của Ngài chính là thân xác đã bị hành hạ và đóng đinh thập giá, vì còn mang dấu vết cuộc khổ nạn (Lc 24,40; Ga 20,20,27). Tuy nhiên, thân xác đúng nghĩa và có thật này có các đặc tính mới của một thân xác vinh hiển: Ngài không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian nữa, nhưng có thể đi đâu và lúc nào tùy ý, vì nhân tính của Ngài không còn bị giam giữ trên trần thế mà chỉ thuộc về thế giới thần linh của Chúa Cha (Ga 20,17). Do đó, Đức Giêsu phục sinh hoàn toàn tự do để hiện ra như Ngài muốn: dưới hình dáng một người làm vườn (Ga 20,14-15) hoặc "dưới hình dạng khác" (Mc 16,12) hơn những hình dạng quen thuộc với các môn đệ, nhằm khơi dậy đức tin của họ (x. Ga 20,14.16; 21,4.7).

Sự hội nhất nhân tính của Đức Giêsu trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Vấn đề đặt ra tiếp theo là: khi về với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu hợp nhất như thế nào trong mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, đang khi phần nhân tính của Ngài vẫn còn? Chúng ta có thể hiểu như sau19: Sự Phục Sinh của Đức Giêsu là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trong lịch sử. Trong cuộc Phục Sinh này, cả Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng chung hoạt động, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mình. Phục Sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng "đã làm cho Đức Kitô Con của Người sống lại" (Cv 2,24); nhờ đó, Chúa Cha đưa trọn nhân tính - cùng với thân xác - của Đức Kitô vào mầu nhiệm Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Đức Giêsu được mặc khải chung cuộc là "Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng theo Thánh Thần do việc Người từ cõi chết sống lại" (Rm 1,3-4). Thánh Phaolô nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng (Rm 6,4; 2Cr 13,4; Pl 3,10; Ep 1,19-22; Dt 7,16) qua công trình của Thánh Thần làm cho nhân tính đã chết của Đức Giêsu được sống lại và nâng lên tình trạng vinh hiển.

Vậy, những lần hiện ra sau này của Đức Giêsu với các môn đệ thì đó là nhân tính hay thiên tính hay cả hai? Lần hiện ra cuối cùng được kết thúc bằng việc nhân tính của Ngài đi vào vinh quang Thiên Chúa một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây (Cv 1,9; Lc 9,34-35; Xh 13,22) và cõi trời (Lc 24,51) nơi từ nay Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc 16,19; Cv 2,33; 7,36; Tv 110,1). Hoàn toàn ngoại lệ và độc nhất, chỉ một lần, Ngài tỏ mình ra cho thánh Phaolô "chẳng khác nào cho một đứa trẻ sinh non" (1Cr15,8) trong lần cuối cùng này, Ngài đặt ông làm tông đồ (1Cr 9,1; Ga 1,16). Cách chung, một khi Đức Kitô lên trời nghĩa là nhân tính của Người vĩnh viễn đi vào thượng giới của Thiên Chúa. Từ nơi đó, Người sẽ trở lại (Cv 1,11). Giữa Thăng Thiên và Tái Lâm, loài người không trông thấy Người được (Cl 3,3).

Tóm lại, trong công trình cứu chuộc mầu nhiệm của Ba Ngôi Chí Thánh, Đức Giêsu Kitô được Phục Sinh nhờ Chúa Cha, Đấng đã đưa trọn nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu vào mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần từ ngàn xưa đến mãi muôn đời. Thế nên, “sự Phục Sinh vừa là một biến cố lịch sử đươc các môn đệ chứng thực vì họ đã thực sự gặp Đấng Phục Sinh, vừa là biến cố siêu việt vì nhân tính của Đức Kitô đi vào trong vinh quang Thiên Chúa.”
20

KẾT LUẬN

Trong cuộc sống thường nhật, người ta nhận thấy Đức Giêsu là người Nadarét ở Galilê, Ngài là Đấng chữa lành và là người làm những phép lạ. “Ngài là Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay con người, suy nghĩ bằng trí óc con người, hành động theo một ý chí con người, yêu mến bằng quả tim con người. Sinh làm con Đức Trinh nữ Maria, Ngài đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi”21. Ngài đã bị kết án, bị đau khổ, bị sỉ nhục và bị đóng đinh. Ngài đã chết và đã được nâng dậy từ cõi chết bởi Chúa Cha. Con Người này được các Kitô hữu coi như là một vị ngôn sứ, Con Thiên Chúa, Đức Chúa và Đấng Kitô. Thế nên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Đức Giêsu người là điểm khởi cho đức tin của các Kitô hữu trong thế kỷ đầu tiên. Thật vậy, theo đạo là theo một con đường, con đường Đức Giêsu (Ga 16,4), sống đạo là sống một cuộc đời như Đức Giêsu. Ngài mời gọi mọi người ở mọi thời và mọi nơi hãy tin yêu vào Ngài, đặt Ngài là nền tảng và cùng đích của đời sống con người, chắc chắn họ sẽ được hưởng sự sống đời đời (Ga 6,47).

Một khi Đức Giêsu trở thành "Kitô" trọn vẹn trong nhân tính đã toàn thắng sự chết (Cv.2,36), Ngài ban đầy tràn Thánh Thần cho các thánh "để nhờ kết hợp với nhân tính của Ngài, họ trở thành "Con người hoàn hảo..., đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô" (Ep.4,13), thành "Đức Kitô toàn diện" theo cách nói của Thánh Augustinô.

Tất cả chúng ta đã lãnh nhận cùng một Thần Khí duy nhất là Chúa Thánh Thần, chúng ta hiệp nhất với nhau và với Thiên Chúa. Vì chúng ta tuy nhiều người, nhưng Đức Kitô đã cho Thánh Thần của Chúa Cha và của Ngài cư ngụ trong mỗi người chúng ta. Thần Khí duy nhất và không thể phân chia này, quy tụ lại trong Ngài những con người riêng rẽ và làm cho mọi người nên một trong Ngài. Cũng như quyền năng của nhân tính Đức Ki-tô làm cho những ai chia sẽ nhân tính đó hợp thành một thân thể duy nhất. Thánh Syrilô Giám mục Alexanri cho rằng: Chúa Thánh Thần duy nhất và không thể phân chia, Đấng ngự trong mọi người, cũng đưa mọi người đến sự hiệp nhất thiêng liêng.
22

Khi tìm hiểu sâu kỹ về môn Kitô học này, đó là một trong những cơ hội để chúng ta có thể hiểu biết hơn về Đức Giêsu Kitô cách trọn vẹn, nghĩa là hiểu tận căn về Ngài cả nhân tính lẫn thiên tính và sự hội nhất nhiệm màu sâu thẳm đó. Ngõ hầu, ngang qua sự hiểu biết về tri thức và nội tâm này, chúng ta có thể yêu mến Ngài hơn và theo Ngài sát bước hơn (Linh Thao 104), bởi vì Ngài đã sống cuộc đời như chúng ta mọi đàng (ngoại trừ tội lỗi), nên chúng ta có thể ngước nhìn lên Ngài, nhờ Ngài với Ngài và trong Ngài mà chúng ta được vươn lên cùng Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hằng khao khát ước mong.


Minh Đức

Nguồn tham khảo:
1 Taylor, Vincent, The Person of Christ in New Testament Teaching (London: Macmillan, 1958) 287. thuộc về sự hữu

hạn loài người.” 278

2 Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 531.
3 x. Công Đồng Latran 649. DS. 504.

4 Ibid, số 481.

5 x. Công Đồng. Fri-un năm 796: DS 619.

6 Neuner, J. and J. Dupuis, The Christian Faith (NY: Alba House, 1998) 211.

7 Ibid, số 465.
8 Ibid, số 467.

9 x.Công Đồng Êphêsô: (DS 255).

10 Ibid, số 468.

11 Ibid, số 466.

12 x.Điệp ca kinh sáng ngày1-1; T. Lê-ô Cả, bài giảng 2l, 2-3.

13 Ibid, số 469.

14

Thánh Irênê, chống lạc giáo 3,19,1.

15

Thánh Atanasiô, Nhập Thể 54,3.

16 Thánh Tôma Aquinô, Tiểu phẩm 57 về ngày lễ Thánh Thể 1.

17 Ibid, số 464.

18 Ibid, số 645.

19 Ibid, số 648.

20 Ibid, số 656.

21 GS 22,2.
22 Thánh Syrilô Giám mục Alexanri, Jo 12.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

BÀI HỌC TỪ BỆNH VIỆN

 “Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày.” Câu nói của Helen Keller một lần nữa khiến tôi giật mình khi bước vào bệnh viện hôm nay. Nơi đây lại giống như một ngôi trường đặc biệt, dạy ta những bài học rất quý về cuộc đời:



- Tiền nhiều có thể mua thuốc men, phòng bệnh và những dịch vụ tốt hơn, nhưng không mua được sự sống. Có thể mua máu, nhưng không mua được một trái tim khỏe mạnh. Có thể chi trả cho hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, nhưng không thể ra lệnh cho tế bào ung thư ngừng phát triển. Có thể mua một chiếc giường tốt, nhưng không mua được một giấc ngủ bình an; có thể thuê người chăm sóc, nhưng không mua được tình yêu chân thành của một người ở bên khi ta yếu đuối nhất.

- Danh vọng, chức vụ, bằng cấp, tài năng hay sắc đẹp có thể làm ta được ngưỡng mộ ngoài xã hội, nhưng trước bệnh tật, tất cả đều trở nên nhỏ bé. Người giàu hay nghèo, nổi tiếng hay bình thường, cuối cùng cũng chỉ là một con người mong manh, cùng cần một hơi thở, một nhịp tim và một chút sức khỏe.

- Bệnh viện cũng dạy ta biết trân trọng những điều rất bình thường. Có người chỉ mong đủ khỏe để được đi làm, đi học, nấu một bữa cơm, rửa chén, leo vài bậc cầu thang hay tự mình bước xuống khỏi giường để đi vệ sinh. Có người chỉ ước được ăn một bữa cơm bình thường mà không phải kiêng khem.

- Ta từng khó chịu khi cha mẹ gọi điện nhiều lần, nhưng có người chỉ mong còn cha mẹ để gọi. Ta từng thấy vợ chồng, bạn bè đôi khi thật phiền phức, nhưng khi đau yếu mới hiểu có một người đến thăm, quý giá biết bao.

- Ta thường nghĩ mình còn rất nhiều thời gian, nhưng bệnh viện nhắc ta rằng không ai biết mình còn bao nhiêu ngày sống. Ta từng quá bận tâm người khác nghĩ gì, chạy theo thành công và phù phiếm, nhưng rồi nhận ra: nếu có tất cả mà không có sức khỏe và bình an, liệu ta có thật sự hạnh phúc?

Bệnh viện không chỉ là nơi chữa bệnh cho thân xác, đôi khi đó còn là nơi chữa căn bệnh vô ơn của tâm hồn.

Tạ ơn Chúa vì tất cả!

 M. Đức 

28.8.2026

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Kinh Dịch nói gì về tình trạng hiện nay

 Kinh Dịch nói gì về tình trạng hiện nay:




Ngày 30/5/2026 quẻ số 63 – Ký Tế (既濟, Jì Jì, “Đã hoàn thành” hay “Sau khi hoàn tất”). Nghĩa là: Đừng tưởng việc lớn đã xong là kết thúc, nhưng không phải vậy, quẻ này cảnh báo rằng “At the beginning good fortune. At the end disorder. Ban đầu khởi sự tốt, nhưng kết thúc dễ rối loạn.” Đây cũng là điều mà thánh Phaolo từng cảnh báo “Anh em hãy cẩn thận khi khởi đầu bằng Thần Khí và kết thúc bằng xác thịt” (Galat 3,3).

Con người thường: chủ quan, tự mãn, ngừng học hỏi, mất cảnh giác và chính lúc ấy: sự suy thoái bắt đầu. Ma quỷ thường cám dỗ và đánh gục khi ta tự mãn, tự đắc, tự hào, tự kiêu, tự do dựa vào sức riêng mình mà xem thường ơn Chúa. Đây là khởi đầu của vấp ngã và thất bại.

Quẻ Ký Tế này gồm: Thượng quái: Khảm (☵ – Nước); Hạ quái: Ly (☲ – Lửa). Hình dung như lửa ở dưới nấu nồi nước bên trên. Nhưng nếu mất cân bằng khi: lửa quá lớn gây cạn nước; hoặc lửa quá nhỏ khiến nước chẳng thể sôi. Quân bình âm dương là điều rất cần trong gia đoạn này.

Đồng thời, quẻ Ký Tế cũng nhắc nhở rằng: Cuộc đời không có điểm kết thúc tuyệt đối. Mỗi sự hoàn thành lại mở ra một hành trình mới. Chẳng hạn chịu chức linh mục xong không phải hoàn thành một mục tiêu, nhưng là khởi đầu một sứ vụ mới.

Đây chính là tinh thần của Kinh Dịch: không có thành công nào cho phép con người ngừng trưởng thành. Cuộc sống là một dòng sông vận hành liên tục và như Heraclitus nói “không ai tắm 2 lần trên một dòng sông” cũng rất chí lý.

Sau hơn 2 tháng, ngày 14/8/2026 bốc quẻ Vị Tế. Kinh Dịch cho ra một quẻ thật lạ lùng khi nó cạnh sát quẻ Ký Tế (số 63). Đây là một quẻ rất đặc biệt, và càng đặc biệt hơn vì cả 6 hào đều là hào động. Quẻ này liên quan đến thời chuyển. Vị tế (未濟) không hẳn là thất bại mà là thời đang chuyển.

Nhưng quẻ Vị Tế ngược với quẻ Ký Tế: lửa ở trên và nước ở dưới ( Thượng quái: Ly ☲ – Lửa; Hạ quái: Khảm ☵ – Nước). Điều này nói lên có gì đó chưa được hòa hợp và cân bằng nội tại.

Hơn nữa, hình ảnh “Con cáo nhỏ gần vượt qua sông, nhưng làm ướt đuôi” là đặc trưng của quẻ Vị Tế. Hãy tưởng tượng một con cáo đang bơi qua sông, nó đã gần tới bờ và chỉ còn một chút nữa thôi là an toàn lên bờ. Nhưng vì nghĩ rằng mình sắp thành công nên có thể mất tập trung dẫn đến cái đuôi của nó bị ướt.→ Đây là một bài học cực kỳ sâu: Càng gần thành công, càng phải tỉnh thức. Nhiều thất bại không xảy ra lúc bắt đầu. Chúng xảy ra ngay trước khi hoàn thành.

Tóm lại, cả 2 quẻ trên Ký Tế (63) và Vị Tế (64) đều có 6 hào động nên chứng tỏ thời đang dịch chuyển và dục tốc bất đạt, tảo cấp tắc bại sự. Hãy kiên nhẫn chờ đợi khó khăn nhưng đừng bỏ cuộc sớm. Hãy nhìn kỹ từng hào sẽ thấy rõ: 

1. Hào 1 - Bắt đầu khi con cáo mới xuống nước. Đừng vội vì khi ta chưa biết hết hoàn cảnh thì chưa nên hành động quá sớm. Hãy chuẩn bị chờ thời.

2. Hào 2 – Biết giữ mình: Hào này nói về việc kéo bánh xe lại, giữ cho xe không lao quá nhanh. Có lúc tiến chậm lại chính là cách để tiến xa hơn.

3. Hào 3 – Chưa qua được: Đây là giai đoạn nguy hiểm. Muốn tiến quá nhanh có thể gặp bất lợi. Biết mình chưa đủ điều kiện thì đừng cố ép thời gian.

4. Hào 4 – Bắt đầu chuyển mình: Đây là lúc nỗ lực thật sự được triển khai. Nhưng vẫn cần kiên trì và không bỏ cuộc giữa chừng.

5. Hào 5 – Ánh sáng: Đây là hào rất đẹp khi người quân tử có ánh sáng của mình, có lòng thành. Không phải bằng quyền lực mà bằng đức và sự chân thành. Khi đã tìm được hướng đúng, hãy sống bằng nội lực và sự chân thành.

6. Hào 6 – Cẩn thận ở điểm cuối: Đây mới là điều cực kỳ đáng chú ý. Ngay khi tưởng rằng: “Xong rồi!”thì lại có nguy cơ “ướt đầu”. Nghĩa là: Đừng đánh mất sự tỉnh thức ngay trước đích.

Tóm lại: “trong âm luôn có dương và trong dương luôn có âm” hay “trong họa có thể tiềm ẩn phúc và trong phúc có thể ẩn chứa họa” chuyện “tái ông thất mã” là một bài học. Đồng thời, Kinh Dịch dạy ta 2 quẻ Ký Tế và Vị Tế trên là: đừng vội vàng, hấp tấp quyết định hay tự mãn trước thánh công gần tới, nhưng hãy nhận ra thời của mình mà hành động cho đúng đắn, khiêm tốn và tỉnh thức. Đây cũng những điều mà chính Chúa Giêsu cũng dạy ta “hãy học ở Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường… hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn kẻo sa trước cám dỗ” (Mt 26,41) và lời Đức Giêsu: “Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 24,13)


M. Đức 

(Một suy tư và bài học nhỏ từ Kinh Dịch)

Trong Luận Ngữ, chương 7, có câu: 子曰:「加我數年,五十以學易,可以無大過矣。”Nếu cho ta thêm vài năm nữa, đến năm mươi tuổi mà học Dịch, ta có thể không mắc sai lầm lớn".

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

TÌM Ý CHÚA TRONG ĐỜI

 TÌM Ý CHÚA TRONG ĐỜI

Ít nhất một lần trong đời có thể ta đã tự hỏi rằng: “không biết Chúa muốn điều gì trên cuộc đời con? Giữa những chọn lựa, đâu thực sự là Ý Chúa? Chúa muốn con đi tu hay lập gia đình? Chúa muốn con tu triều hay tu dòng? Nếu tu dòng thì là dòng nào? Hay nếu con lập gia đình thì đâu là người bạn đời mà Chúa dành cho con? Hoặc con sẽ sống ở nơi nào? Đâu là nghề nghiệp mà Chúa muốn con thực hiện?”

Thực ra, có đôi khi ta quan niệm Ý Chúa như việc sáng mua vé số, chiều sẽ có kết quả xổ sổ ngay; hay Ý Chúa như việc bốc thăm trúng thưởng, nghĩa là trong số các khả thể tốt nhất ở trong chiếc hộp giấy kia, nếu ta may mắn thì sẽ tìm được cái tốt nhất. Thế nên, ta phải dùng mọi khả năng, tài khéo, trực giác để lựa chọn cho mình một khả thể tốt đẹp nhất, đúng đắn nhất và xem đó là Ý Chúa. Thậm chí, một số người khá lạc quan khi nghĩ rằng: Ý Chúa quan phòng trên cuộc đời ta tựa như một bản Google Maps, dù ta có thể đi con đường khác với gợi ý ban đầu nhưng bản đồ sẽ tự động cập nhật con đường mới, miễn là sẽ đưa ta đến tới cùng đích của mình… 

Thế nhưng, nếu suy nghĩ và tìm kiếm Ý Chúa cho cuộc đời mình như các quan niệm trên, có lẽ ta sẽ sống vừa trong sự hồ hời, háo hức, hồi hộp, nhưng cũng vừa lo lắng, lơm lớp, lấp lửng… bởi vì ta sợ rằng sau một thời gian “lựa” thì có thể sẽ “chọn” phải cái không đúng, điều vốn dĩ khiến cuộc đời ta không có bình an và hạnh phúc thực sự vì đã làm hỏng kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc đời mình. 

Áp lực và lo lắng suy nghĩ như thế theo kiểu tâm lý tự nhiên và phán đoán lý tính thuần túy của con người thì cũng dễ hiểu thôi! Thế nhưng, dường như ta đang “gò ép” Thiên Chúa vào một lối suy nghĩ “khuôn khổ” và hành động theo kiểu của con người, nghĩa là Ý Chúa trên cuộc đời ta có thể theo kiểu nhị nguyên biện chứng: đúng-sai; hên-xui; may-rủi; được-mất; thành-bại; vinh-nhục; hạnh phúc-đau khổ… Và dường như Thiên Chúa đã có một kịch bản tiền định sẵn cho ta từ thuở ngàn xưa.

Thiết tưởng cũng cần nhắc đến ý niệm tiền định của Thiên Chúa và ý chí tự do của con người. Thực ra, món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa ban cho con người là một “ý chí tự do”, điều mà không phải mọi thụ tạo, sinh vật nào cũng có thể thủ đắc. Thế nhưng, theo như thánh Tôma Aquinô giải thích thì: ý chí tự do không phải muốn làm gì thì làm, mà là khả năng làm điều thiện một cách có ý thức và trách nhiệm.

Bên cạnh đó, ý niệm “tiền định” không có nghĩa là mọi sự được lập trình sẵn, theo kiểu một bộ phim đã có kịch bản và ta là những diễn viên buộc phải theo kịch bản đó. Thực tế, Thiên Chúa biết đích đến và chuẩn bị mọi phương thế để con người đạt tới cùng đích ấy, nhưng Ngài không cưỡng ép con người phải đi theo con đường đó. Sở dĩ điều làm Thiên Chúa trở nên siêu việt, tuyệt vời và vĩ đại mãi mãi, đó là Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài ngang qua chính sự tự do của con người. Dù rằng, tự do của con người là có thật, nhưng sự khôn ngoan của Thiên Chúa con lớn hơn nhiều!

Vậy làm thế nào để nhận ra Ý Chúa cho cuộc đời mình? Theo linh đạo của thánh I-nhã, Ý Chúa là một tiến trình phân định thiêng liêng và mọi lựa chọn được đưa ra với sự bình tâm. Bình tâm ở đây được hiểu là mọi chọn lựa đều mang ý chí tự do và hướng đến Thiên Chúa, nghĩa là cho Vinh Danh Chúa hơn. Nói một cách dễ hiểu: bình tâm là đặt Chúa lên trên hết (Linh Thao số 23). Dấu chỉ xác chuẩn của một lựa chọn đúng theo Ý Chúa đó là sự bình an đích thực, niềm an ủi thiêng liên kéo dài và hạnh phúc sâu lắng, điều mà chính Chúa Giêsu nói trong Kinh Thánh “không theo kiểu thế gian ban tặng” (Ga 14,27).

Vậy, có người đặt ra vấn đề là: một người đi tu và đã khấn trọn một thời gian và xem đó là Ý Chúa, nhưng hôm nay họ rời dòng để sống một bậc sống khác, chẳng hạn ơn gọi hôn nhân. Vậy phải chăng lựa chọn thứ hai cũng là Ý Chúa quan phong hay chỉ là ý riêng của họ?

Nếu hiểu Ý Chúa không phải là một "kịch bản định sẵn" mà con người chỉ việc tìm cho đúng, nhưng là một huyền nhiệm được Thiên Chúa hiện thực hóa qua chính tự do của con người, thì những tháng năm sống đời tu không phải là một sai lầm cần phủ nhận khi hôm nay họ bước vào đời sống hôn nhân. Trong quãng thời gian ấy, họ đã chân thành cầu nguyện, phân định, quảng đại đáp lại tiếng gọi mà mình nhận ra lúc bấy giờ. 

Thiên Chúa đã hiện diện, hướng dẫn và ban ân sủng cho từng bước đi ấy. Vì thế, những tháng năm trong đời tu không phải là một "đoạn đường lạc hướng", nhưng là một phần thật sự của hành trình Thiên Chúa đã cùng họ viết nên. Nếu hôm nay, sau một tiến trình phân định nghiêm túc, họ nhận ra mình được mời gọi sống ơn gọi hôn nhân, thì điều đó không có nghĩa Thiên Chúa đã đổi ý, nhưng chính hành trình cuộc đời họ đang tiếp tục được Ngài dẫn dắt trong một giai đoạn mới.

Điều thay đổi không phải là tình yêu hay kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng là cách kế hoạch ấy được triển nở trong dòng chảy của lịch sử đời họ. Thiên Chúa không yêu họ hơn khi họ mặc tu phục, cũng không yêu họ ít đi khi bản thân họ khoác lên mình vai trò của một người chồng, người cha, hay người vợ, người mẹ. Điều Ngài luôn mong muốn là họ sống trọn vẹn ơn gọi nên thánh trong bậc sống mà hôm nay, với lương tâm ngay thẳng và sự bình tâm thiêng liêng, họ nhận ra là con đường mình phải bước đi dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. 

Vì thế, không nên đặt hai giai đoạn ấy trong thế đối lập: một bên là Ý Chúa, còn bên kia chỉ là ý riêng của đương sự. Đúng hơn, cả hai đều có thể là những chặng đường khác nhau trong cùng một kế hoạch yêu thương, nơi Thiên Chúa luôn đồng hành và hoạt động qua chính tự do của con người.

Chuyện kể rằng: có một Đức Giám Mục đến một hội dòng kia để dâng thánh lễ khấn cho các nữ tu. Sau thánh lễ, Đức Giám Mục cùng quý soeur trong ban cố vấn đi tham quan một vòng trong khuôn viên nhà Dòng. Khi đến khu vực nhà bếp, nơi có quý soeur đang chuẩn bị sắp dọn bữa ăn, Đức Cha tiến vào trong bếp và hỏi một nữ tu rằng: “Soeur đang làm gì đấy?”, nữ tu mỉm cười đáp lại rằng: “Dạ! công việc của con đang làm thì cũng giống việc Đức Cha đang thực hiện đó ạ!” Đang khi Đức Cha sửng sốt và ngạc nhiên trước câu trả lời đó, thì vị nữ tu liền giải thích rằng: “Công việc của Đức Cha, cũng như công việc của con ở đây và ngay lúc này đó là đang thi hành Ý Chúa!” Đức Cha chợt gật đầu mỉm cười và giơ tay chúc lành cho vị nữ tu hồn nhiên, vui tươi và hóm hỉnh đó. Nói theo ý của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận thì “Ý Chúa trong phút hiện tại là việc bổn phận của con.”

Vì thế, thay vì đặt câu hỏi: "Giữa muôn vàn khả thể lựa chọn, lỡ tôi chọn sai thì hỏng luôn kế hoạch Chúa dành cho mình thì sao?” thì ta hãy hiểu rằng, Thiên Chúa không muốn ta phải trở thành: bác sĩ hay linh mục; sống ở Pháp hay Việt Nam, cưới người A hay người B… Nhưng điều Ngài muốn trước tiên là: tôi cần nên thánh; biết yêu thương; sống trong chân lý; đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi vì, có nhiều con đường cụ thể khác nhau có thể dẫn tới cùng mục tiêu ấy.

Dĩ nhiên, Thiên Chúa còn có thể biến cả những lựa chọn sai thành cơ hội cứu độ. Đây là một điều an ủi rất lớn cho những người theo Chúa. Phêrô từng phạm tội phản bội và chối bỏ Chúa Giêsu, người Thầy yêu dấu của mình, nhưng Phêrô đã vấp ngã và đứng lên hoán cải, làm lại cuộc đời và trở thành vị thánh tông đồ trụ cột trong Giáo Hội. Phaolô cũng miệt mài bách hại các Kitô hữu sơ khai, nhưng một khi biết mình đã sai, thánh nhân đã trở lại cùng Chúa và trở nên vị thánh tông đồ nhiệt thành cho dân ngoại. Hay như một ví dụ nổi bật là Giuse trong Cựu Ước. Khi Giuse bị các anh bán sang Ai Cập là một hành vi xấu của con người, nhưng cuối cùng chính biến cố đó lại trở thành phương thế để cứu cả gia đình khỏi nạn đói. Giuse nói với các anh mình: "Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho điều đó trở nên điều lành." Điều đó không có nghĩa Thiên Chúa muốn sự dữ xảy ra, nhưng Ngài có quyền năng biến cả hậu quả của sự dữ thành cơ hội cho điều thiện lớn hơn.

Tóm lại, Thiên Chúa có một kế hoạch yêu thương cho mỗi người chúng ta. Dù rằng Thiên Chúa biết trước mọi lựa chọn của chúng ta có thể chưa hoàn hảo, nhưng Ngài không cưỡng ép sự tự do của chúng ta. Ân sủng của Thiên Chúa không hủy bỏ tự do mà chữa lành, nâng đỡ và hoàn thiện tự do, ngay cả trong những chọn lựa sai lầm, nếu con người hoán cải thì Thiên Chúa vẫn có thể đưa ta trở về với kế hoạch cứu độ. “Nguyện xin Chúa giúp con bắt đầu và lại bắt đầu, dù khi thất bại, dù khi mỏi mệt, chán chường, dù khi lỗi tội, dù khi phản bội... Xin Chúa giữ gìn con”.

Bạn Đường Đức Giêsu

11.07.2026 Lễ Thánh Biển Đức

""Listen carefully, my son, to the master's instructions, and attend to them with the ear of your heart." "Hỡi con, hãy chăm chú lắng nghe những lời chỉ dạy của bậc thầy và hãy đón nhận chúng bằng đôi tai của trái tim con." (Lời mở đầu Tu Luật của Thánh Biển Đức) 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

THA THỨ CHO CHÍNH MÌNH

 THA THỨ CHO CHÍNH MÌNH


Trong cuộc sống, nếu có ai đó làm tổn thương bạn, điều đầu tiên bạn thường mong chờ là một lời xin lỗi. Sau đó, bạn sẽ cân nhắc xem mình có thể tha thứ cho họ hay không. Nhưng nếu người gây ra lỗi lầm lại là chính là bạn thì sao? Phải làm gì khi chính bạn đã tạo nên những vết thương lòng nơi người khác? Phải làm sao khi giữa cơn nóng giận, bạn đã buông ra những lời nói khiến người mình thương đau đớn? Có những sai lầm tưởng chừng chỉ diễn ra trong vài phút, nhưng hậu quả lại kéo dài nhiều năm. Và điều khó khăn nhất không phải là bị người khác trách móc, mà là chính mình không thể tha thứ cho mình. Bởi nếu phạm lỗi với người khác và ngay lúc đó ta xin lỗi và nài nỉ họ phải tha thứ cho mình, thì thật khó khăn đối với họ. Khi người kia vừa bị ta xúc phạm, bị tổn thương và vừa phải chấp nhận bao dung, tha thứ cho ta, điều đó thật là thiệt thòi cho họ, bởi họ chịu nhiều cảm xúc tiêu cực và nặng nề.

Trong một báo cáo được công bố vào năm 2012 cho thấy có khoảng 22% trong số các cựu chiến binh Mỹ đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam bị chịu ảnh hưởng trực tiếp với sang chấn tâm lý sau chiến tranh và có 15,7% các trường hợp bị gián tiếp ở cấp độ nhẹ. Theo đó, một số bài báo cáo từ quốc hội Mỹ cho biết, hệ quả đến từ sang chấn tâm lý sau chiến tranh Việt Nam hiện vẫn còn đang tác động rất nhiều đến xã hội Mỹ.

Ta không biết điều gì đã xảy ra với các cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việ Nam năm xưa, nhưng ta biết chắc một điều là tâm hồn của họ ít nhiều cũng chịu những thương tổn tâm lý. Thế nên, nhiều người sống trong cảm giác dằn vặt vì những điều đã qua. Họ tự trách bản thân, tự kết án chính mình và mãi mắc kẹt trong quá khứ.

Có những tù nhân sau nhiều năm trong trại giam vẫn bị ám ảnh bởi lỗi lầm mình gây ra. Điều họ khao khát không chỉ là tự do, mà còn là cơ hội sửa sai và được làm lại cuộc đời. Có người từng gây tổn thương cho cha mẹ, đánh mất tình bạn, làm tan vỡ một cuộc hôn nhân hay vô tình hủy hoại niềm tin của ai đó. Những điều ấy không dễ xóa nhòa. Nhưng nếu con người mãi sống trong mặc cảm và tuyệt vọng, họ sẽ chẳng còn sức để thay đổi, bởi lẽ nếu chỉ bận tâm đến những gì mình thất bại, lỗi lầm, thì chẳng khác gì đổ tro tàn trên đống than nguội.

Tha thứ cho chính mình không phải là bao biện cho lỗi lầm. Đó là quá trình dũng cảm đối diện với sai lầm, chấp nhận bản thân và buông bỏ sự dằn vặt để chữa lành. Một người biết tự tha thứ không phải là người vô trách nhiệm, nhưng là người đủ trưởng thành để nhìn thẳng vào bóng tối của mình và nói: “Tôi đã sai, tôi chịu trách nhiệm.” Thật ra, điều đầu tiên cần làm là hãy đánh giá cao cảm giác day dứt của mình lúc này. Không phải ai cũng đủ khả năng tự nhận thức để nhận ra mình đã sai. Có những người làm tổn thương người khác nhưng vẫn nghĩ mình đúng. Vì thế, khi ta còn biết đau lòng vì lỗi lầm, điều đó cho thấy nơi sâu thẳm, ta vẫn là một người có lương tri và thiện tâm.

Nhân vô thập toàn, con người vốn không hoàn hảo. Không ai sống mà chưa từng phạm sai lầm. Đã là sai lầm thì sẽ có sai lầm nhỏ và sai lầm lớn, nhưng tất cả đều xuất phát từ cùng một sự thật: chúng ta là những con người giới hạn. Vì vô minh, nóng giận, ích kỷ, thù hận hay thiếu sự khéo léo, ta đã gây khổ đau cho chính mình và cho những người mình yêu thương. Nếu nhìn kỹ lại, nhiều khi người làm mình khổ nhiều nhất lại chính là mình chứ không phải ai khác. Ta cứ ôm lấy lỗi lầm, tự trách móc, tự hành hạ bản thân và đánh mất sự bình an hiện tại.

Bởi vậy, bước đầu tiên của sự tự tha thứ là chấp nhận và chịu trách nhiệm, đừng trốn tránh hay phủ nhận lỗi lầm. Một vết thương muốn chữa lành thì trước hết phải được nhìn nhận. Sau đó, hãy tự hỏi: “Điều này có ý nghĩa gì cho cuộc đời tôi? Tôi đã học được gì từ biến cố ấy?” Nếu cứ mãi trách móc bản thân, điều gì sẽ xảy ra? Có lẽ ta sẽ tiếp tục chìm trong bất mãn, mất niềm tin vào chính mình và không còn khả năng yêu thương ai khác.

Tha thứ cho bản thân còn là học cách thấu hiểu chính mình. Nếu người mắc lỗi là một người bạn thân, liệu ta có tha thứ cho họ không? Rất nhiều lần ta sẵn sàng bao dung cho người khác nhưng lại vô cùng khắc nghiệt với chính mình. Ta quên rằng bản thân cũng cần được cảm thông. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận hậu quả của lỗi lầm, nhưng là học cách đứng dậy sau vấp ngã.

Dĩ nhiên, mọi lỗi lầm đều để lại hậu quả. Tha thứ cho bản thân không có nghĩa là xóa bỏ trách nhiệm. Có những điều phải được sửa chữa bằng hành động cụ thể. Nếu đã làm tổn thương ai, hãy chân thành xin lỗi. Nếu đã gây thiệt hại, hãy cố gắng bù đắp trong khả năng có thể. Đó cũng là một cách “đền tội” để lập lại sự công bằng. Trong ngôn ngữ nhà Phật, Nhân – Duyên – Quả luôn đi liền với nhau, bởi mỗi hành động đều tạo nên kết quả tương ứng. Nhưng điều quan trọng là từ nhân xấu hôm qua, ta vẫn có thể gieo những hạt giống tốt cho hôm nay và ngày mai.

Một trong những cách giúp con người chữa lành quá khứ là giúp đỡ người khác. Khi trao đi sự tử tế, ta cảm nhận rằng mình vẫn có giá trị, vẫn có thể mang lại điều tốt đẹp cho cuộc đời. Nhiều người từng phạm sai lầm lớn sau này lại trở thành người sống rất nhân hậu, bởi họ hiểu nỗi đau của con người sâu sắc hơn ai hết. Ngạn ngữ Tây Phương có câu: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội nhân nào cũng có một tương lai”.

Tại một vùng nông thôn nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói kém, bần cùng đã rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc lên trán tội nhân hai mẫu tự “ST”, có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt từ chữ stealer, hay Sheep Thief -tên trộm cừu).

Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống hòng chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ “ST” đáng nguyền rủa này.

Còn người em tự nói với bản thân mình: “Tôi không thể từ bỏ sự tin tưởng của những người xung quanh và của chính tôi”. Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Hễ trong làng có ai đau yếu anh đều tìm đến ân cần chăm sóc và lo lắng. Bất cứ ai có việc gì nặng nhọc, anh đều tới giúp đỡ hết mình, chẳng cần biết đó là ai, giàu hay nghèo. Cứ như thế, anh luôn sống vì người khác mà chẳng hề đòi ban thưởng hay trả công.

Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự “ST” vẫn còn in dấu trên vầng trán anh. Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ một hồi rồi trả lời: “Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là thánh nhân (saint)”.

Thực tế, lỗi lầm cũng vô thường, không có nỗi đau nào tồn tại mãi mãi. Thời gian có thể không xóa hết ký ức, nhưng sẽ làm dịu đi những vết thương nếu ta biết mở lòng chữa lành. Điều quan trọng là đừng để một sai lầm trở thành bản án cho cả cuộc đời mình. Có thể ta đã đọc nhiều bài viết về việc tha thứ cho người khác. Thật ra, tha thứ cho chính mình cũng bắt đầu từ nguyên tắc ấy: bỏ đi lối tư duy phán xét và trách cứ để học cách yêu thương. Ai cũng có quyền được làm lại cuộc đời, kể cả chính ta.

Ngay cả Chúa Giêsu cũng không kết án người phụ nữ phạm tội ngoại tình. Trong khi mọi người nhất tề định ném đá người phụ nữ phạm tội ngoại tình, thì Chúa Giêsu vẫn cúi đầu lặng thinh. Sự lặng thinh của Chúa không phải là đồng lõa trước sự dữ, sự ác độc, bất công… nhưng sự lặng thinh để giúp mọi người có khoảng lặng để phản tỉnh nhìn thẳng vào chính tâm hồn mình. Chúa nói: “Ai trong các người sạch tội thì ném đá người phụ nữ này trước đi” (Ga 8,8). Sau khi mọi người bỏ đi và chỉ còn một mình người phụ nữ, Chúa Giêsu liền nói: "Này chị, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?" Người phụ nữ đáp: "Thưa Thầy, không có ai". Chúa Giêsu bảo: "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa" (Ga 8,1-11). Chúa luôn tha thứ cho ta và cũng mời gọi ta tha thứ cho chính mình, nhất là cố gắng đừng phạm lại tội cũ của mình.

Tóm lại, tha thứ cho bản thân không phải là quên đi lỗi lầm, mà là học hỏi từ nó để trưởng thành hơn. Khi dám đối diện với quá khứ, dám sửa chữa và tiếp tục sống tốt hơn mỗi ngày, đó chính là lúc con người thật sự bước ra khỏi bóng tối. Và biết đâu, chính những vết thương từng làm ta đau đớn nhất lại trở thành nơi khởi đầu của sự trưởng thành, bình an và hạnh phúc sâu sắc trong tâm hồn.


“Tha thứ là điều khó khăn nhất, nhưng cũng là sự cao quý nhất. Chúa Giêsu đã sống và dạy ta hãy tha thứ, vậy ta hãy xin ơn Chúa để tập sống tha thứ mỗi ngày”.

M. Đức

(Kỷ niệm ngày khấn của quý sr: 30/5/2026) 

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Tại Sao Cần Xưng Tội Thường Xuyên

Có một thanh niên nọ luôn tự hào mình là người sống tử tế. Đã từ lâu anh không lãnh nhận Bí tích hòa giải, mẹ anh nhắc nhở anh đi xưng tôi, anh liền nói- “Con nghĩ mình không cần đi xưng tội. Con không trộm cắp, không giết người, cũng chẳng làm điều gì ác. Con thấy mình ổn.” Người mẹ già không tranh luận, bà chỉ mỉm cười và đưa cho anh một chiếc áo trắng, rồi bảo- “Con hãy mặc chiếc áo này trong một tuần, đi làm, đi chơi, sinh hoạt như bình thường, rồi cuối tuần hãy mang lại đây cho mẹ.” Anh thanh niên làm theo. Anh rất giữ gìn, không để chiếc áo bị dơ bẩn. Anh đinh ninh chiếc áo vẫn sạch nguyên. Thế nhưng, đến cuối tuần, khi đặt chiếc áo bên cạnh một chiếc áo mới khác, anh nhận ra- Cổ áo đã sạm màu vì mồ hôi. Gấu áo có những vệt xám mờ của bụi đường. Và khắp mặt vải là những vết ố li ti mà nếu không nhìn kỹ, anh đã chẳng hề hay biết. Lúc đó, người mẹ già mới ôn tồn bảo- “Tâm hồn chúng ta cũng vậy. Con có thể không phạm những ‘trọng tội’ làm rách nát chiếc áo, nhưng những 'hạt bụi' của cuộc sống hằng ngày vẫn âm thầm làm nó hoen ố.” Anh thanh niên nhận ra- Anh không 'vô tội', anh chỉ là đang quá quen với những vết ố trên linh hồn mình đến mức không còn nhận ra chúng nữa- Có bao lần anh nhận được ơn lành nhưng lại coi đó là lẽ dĩ nhiên mà quên mất lời tạ ơn Có bao lần anh mải mê công việc mà chưa tròn trách nhiệm quan tâm đến cha mẹ già hay lắng nghe con cái Có bao lần vì cái 'tôi' quá lớn, vì sự kiêu căng và những cơn giận nhất thời, anh đã buông lời làm tổn thương những người xung quanh Và có biết bao lần anh thấy người hoạn nạn nhưng lại ngoảnh mặt làm ngơ, chưa sống bác ái và yêu thương đủ như Chúa dạy Vậy nên, chúng ta đừng đợi đến khi phạm tội trọng mới tìm đến tòa giải tội. Cũng đừng nản lòng vì nghĩ 'xưng rồi lại phạm'. Chúng ta giặt áo không phải vì nó không bao giờ bẩn nữa, mà vì chúng ta muốn mình luôn sạch sẽ để đón nhận tình yêu. Bí tích Hòa giải không phải là 'tòa án' để xét xử, mà là một 'phòng khám' tình thương, nơi Chúa tháo cởi gánh nặng lương tâm và mặc lại cho ta chiếc áo trắng tinh khôi của người con cái Chúa.

Góp Nhặt

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

TẠ ƠN THIÊN CHÚA NĂM QUA

 



Tạ ơn Thiên Chúa năm qua,

Nhìn lại con thấy món quà hồng ân.

Thời gian thấm thoát xoay vần,

Bàn tay Chúa vẫn ân cần dẫn đưa.

Có ngày sớm nắng chiều mưa,

Tâm can đôi lúc vẫn chưa an bình.

Con chưa hiểu thấu chính mình,

Mải mê thế thái nhân tình đa mang.


Con yêu Chúa quá muộn màng,

Và quên mất Chúa nhẹ nhàng bên con.

Tình yêu nồng thắm, sắt son,

Trái tim cảm mến mãi còn không ngơi.

Con xin dâng Chúa cuộc đời,

Buồn vui, sướng khổ, như lời ngợi ca.

Cuộc đời dẫu lắm phong ba,

Đời con có Chúa chính là niềm vui.


01.01.2026 Lễ Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, Ngày Cầu Nguyện Cho Hòa Bình Thế Giới.

Minh Đức SJ

A.M.D.G 

NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG CỦA NỮ BÁC SĨ TRẺ TUỔI NGUYỄN THÚY LOAN

 



Nguyễn Thúy Loan (hiện tại 29 tuổi) đang sinh sống ở Hà Hội. Năm 25 tuổi, cô gái được chẩn đoán mắc ungthu vòm h:ọng giai đoạn ba.

Tháng 7/2021, cô cùng hàng trăm sinh viên Đại học Y Hà Nội khác trong lớp đồ bảo hộ kín mít, lặng lẽ ngồi trên chuyến xe hướng về Bắc Giang để tham gia chống dịch Co:vid-19.

Ở c:ổ cô, một nốt hạch bằng đ:ầu ngón t:ay đang dần lớn lên, như trực chờ x:é d:a x:é th:ịt để ra ngoài. Song những ngày ấy, người ta quên ăn, quên uống và quên cả những cơn đau.

Đến khi vừa cởi được bộ quần áo chống dịch, gương mặt vừa vơi đi những vết hằn của khẩu trang, cũng là lúc cô giật mình nhận ra kích thước hạch đã bằng một quả chanh. Nhưng Loan vẫn tiếp tục ghi danh, đăng ký vào miền Nam góp sức tham gia chống dịch.

Và kế hoạch ấy không bao giờ diễn ra bởi chẩn đoán ungthu vòm họng giai đoạn 3 chen ngang trong một lần đi khám sức khỏe trước ngày lên đường.

Ở tuổi 25, Loan từng bước sắp xếp cái kết của cuộc đời mình. Cô khoác lên người bộ quần áo xinh xắn nhất, chụp sẵn một bức ảnh thờ. Việc học cũng đã được sắp xếp êm xuôi, Loan gọi điện thoại về cho gia đình.

“Thầy muốn em đi đường dài nên mới chọn những loại thuốc mạnh, em cố gắng vượt qua giai đoạn này nhé”, bác sĩ điều trị, cũng là thầy giáo của Loan, nhẹ nhàng nói.

Chỉ hai giờ sau mũi hóa chất đầu tiên, Loan gục xuống nôn thốc trong chiếc thau mà các cô điều dưỡng đã chuẩn bị sẵn.

Hơn 2 tháng ròng, hạch đáp ứng hóa chất tốt, đã thu nhỏ kích thước. Thế nhưng, đó chưa phải là điểm kết thúc. Giai đoạn tiếp theo, phác đồ điều trị của cô kết hợp cả hóa trị và xạ trị. Thời điểm ấy, hầu hết cả ngày, Loan dành thời gian để nghĩ về cái ch*t.

Mỗi lần đi xạ trị, chiếc xe chuyên biệt lại đưa cô đi và về trên một lộ trình duy nhất, một bên là khu xạ trị, một bên là phòng bệnh. Bạn bè đến thăm chỉ có thể nhìn qua lớp cửa kính, qua những bộ đồ bảo hộ lùn nhùn và vô số bước kiểm tra gắt gao, Loan thấy nghẹt thở.

Đếm đủ 35 chuyến xe đi về như thế, Loan được phép xuất viện, khối u lúc này cũng đã gần như được triệt tiêu hoàn toàn. Đúng chín tháng sau ngày viết đơn bảo lưu, cô trở lại giảng đường. Năm ngoái, Loan gác lại công việc bác sĩ da liễu để theo đuổi lĩnh vực dinh dưỡng. “Tôi muốn đem trải nghiệm của mình để tiếp thêm sức mạnh cho những người khác. Tôi vẫn đọc, vẫn học, vẫn giữ nền tảng y khoa, chỉ khác là mang theo tâm thế của một bệnh nhân từng đi qua cơn bão.”

“Mỗi lần tái khám, khi bác sĩ ngắm nhìn phim chụp rồi khẽ bảo “ổn”, tôi nghe trong lòng vang lên một tiếng thở phào. Tôi bắt đầu học cách ghi nhớ những gì căn bệnh này đã dạy cho mình: sự trưởng thành, trân trọng hơi thở, thay vì day dứt mãi về những gì nó rắp tâm cướp đi từ tôi, như những gì nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng viết: “Người ta chỉ lớn lên sau những lần bị cuộc đời làm cho bật khóc”.


Theo: Kỳ Duyên - Znews

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

BỘ 3 CÁC GIÁ TRỊ

 Ba thứ không bao giờ quay trở lại:

1. Thời gian

2. Lời nói

3. Cơ hội

Ba thứ bạn không bao giờ nên đánh mất:

1. Sự bình tĩnh

2. Sự trung thực

3. Hy vọng

Ba thứ thực sự có giá trị:

1. Tình yêu

2. Sự tôn trọng

3. Sự tin tưởng

Ba thứ trong cuộc sống là không chắc chắn:

1. Thành công

2. Quyền lực

3. Sự giàu có

Ba thứ định nghĩa nên một con người:

1. Đạo đức

2. Sự chính trực

3. Thành tựu

Ba thứ hủy hoại một con người:

1. Rượu

2. Sự kiêu ngạo

3. Sự ác ý

Sưu tầm.

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2025

HỮU-THỂ-HƯỚNG-VỀ-SỰ-CHẾT

 HỮU-THỂ-HƯỚNG-VỀ-SỰ-CHẾT

Ý nghĩa tồn tại của Dasein trong “thời tính” và nỗi khắc khoải của Dasein về hiện-hữu-cận-lân và hiện-hữu-cho-đến-chết



Dẫn nhập

Trong số các trước tác kinh điển của Heidegger, nổi bật hơn cả là tác phẩm “Being and time” (1927). Tác phẩm này được Heidegger đặc biệt lưu tâm đến vấn đề hữu thể (being ), ông cho rằng cần thiết để nghiên cứu cụ thể, rõ ràng mục đích của câu hỏi về hữu thể, đồng thời cũng cần làm rõ mục đích câu hỏi này để làm gì? Ai đặt vấn đề và đặt ra với mục đích gì? Từ tự vấn đó, trong Being and time, Heidegger đã triển khai một số đề mục then chốt như: Hữu thể ở đây và phương pháp phân tích hiện sinh; Con người với tư cách Hữu thể-trong-thế giới (In - der - Welt - sein); Hiện hữu cho tới chết; Hiện hữu bản chân và phi bản chân; Nhìn thẳng vào thực tại để đối mặt với nỗi sợ hãi và thời gian; …”

Có thể nhận định rằng ngang qua tác phẩm Being and Time, Heidegger đã phê phán siêu hình học trước đó kể từ thời Aristotle đến Hegel và Nietzsche, khi họ đã phân tích hữu thể đi theo hướng sai lệch vì đã biến siêu hình học thành vật lý học. Do đó, Heidegger muốn giải cấu (destruction) và đưa vấn đề siêu hình học về đúng trọng tâm của nó với ý nghĩa đích thực nhất, nghĩa là đừng lãng quên câu hỏi về hữu thể nhưng hãy lưu nhớ đặc biệt về hữu (l’être) và hữu thể (l’étant). Thực tế, chúng ta thấy từ thời hậu Heidegger, phần đa các triết gia đề cập đến “hữu thể luận” hơn là “siêu hình học”. 

Tác phẩm Being and time chủ yếu là một nghiên cứu sâu rộng để: Bình giải về câu hỏi về ý nghĩa của hữu thể (Exposition of the question of the meaning of being): Trong đó bao gồm hai đề mục lớn là: Tính tất yếu, cấu trúc và ưu tiên của câu hỏi về hữu thể (The necessity, structure, and priority of the question of being); và Nhiệm vụ kép trong việc triển khai câu hỏi về hữu thể (The twofold task in working out the question of being). Đề mục thứ hai này bàn về những vấn đề như: Phân tích nền tảng của Dasein (gồm Hữu thể trong thế giới nói chung là trạng thái cơ bản của Dasein; Hữu thể trong thế giới với tư cách là hữu thể với và hữu thể là chính mình: Một cách tiếp cận câu hỏi hiện sinh về “ai” của Dasein; Dasein với hữu thể khác và Dasein với thường hằng (The Dasein-with of Others, and everyday Being-with); Mối bận tâm về sự hiện hữu của Dasein), và Dasein và thời tính (gồm Khả thể tính của Dasein về hiện hữu tổng thể và Hiện hữu cho đến chết (Dasein’s Possibility of Being-a-Whole and Being-Towards-Death))...

Trong bài viết này, chúng tôi nỗ lực tìm hiểu về Nỗi khắc khoải của Dasein trong thời tính, và Dasein với Hiện-hữu-cận-lân và Hiện-hữu-cho-đến-chết. Cuối cùng là một vài ghi nhận tóm kết của của người viết bài.

1. Ý nghĩa tồn tại của Dasein trong “Thời tính” (“Zeitlichkeit”)

Có lẽ khi mang thân phận con người được hiện hữu và hiện diện trên cõi đời này, ta không tránh khỏi những lúc khắc khoải, âu lo về một điều gì đó. Heidegger đã ý thức sâu xa về điều đó, nên ông tìm hiểu sâu kỹ về ý nghĩa hiện hữu của Dasein (Da: có đó, Sein: hiện hữu) cùng với nỗi khắc khoải của nó. Heidegger cho rằng chính trong khắc khoải, lo âu thì ánh sáng sẽ khai minh, chiếu soi tâm trí ta về sự hư vô của mình. Từ hư vô được hiện hữu trong thế giới, rồi từ thế giới đó sẽ trở về với sự hư vô, đây là yếu tính của sự hiện hữu của Dasein. Nỗi ưu tư, khắc khoải, lo âu như một quyền lực buộc Dasein phải lắng nghe, tìm kiếm sự thật với tự do nội tại. Bởi lẽ, sự trống rỗng nơi hữu thể chất chứa khả thể cần được lấp đầy trọn vẹn. Nói chung, con người ‘ưu tư’ về chính mình, không theo nghĩa luân lý, mà là nghĩa hữu thể. Vậy, chính trong thời gian thinh lặng, khi đối diện với sự trống rỗng, hư không, buộc ta phải ưu tư về thân phận con người, Heidegger coi đó là cốt lõi của hiện hữu nhân sinh.

Trước hết, tại sao thời gian làm cho ta trở nên ưu tư? Trong tác phẩm Being and time, Heidegger đã khẳng định hữu thể là thời gian, hữu thể phải đi liền với thời gian tính, nghĩa là Dasein trải qua quá khứ, hiện tại và tương lai.  Hơn nữa, Heidegger đã nghiên cứu kỹ lượng về hiện tượng ‘ưu tư’ (boredom) trong tác phẩm Những Khái Niệm Nền Tảng về Siêu Hình Học (The Fundamental Concepts of Metaphysics), và ông đã tìm thấy rõ yếu tính của ‘ưu tư’ và xem nó như là một phương thức hiện hữu của con người. Thật vậy, ông cho rằng có hai nguyên nhân cơ bản của ưu tư nơi ta, một là đến từ thời gian và hai là đến từ sự trống rỗng.  Có khi, Dasein mặc lấy sự ưu tư như bị thời gian quên lãng trong tình trạng lơ lửng (being help in limbo) giữa hai thời khắc quá khứ với hiện tại, và hiện tại với tương lai. Có thể nói Dasein bị nhuộm màu thời tính (Zeitlichkeit) và lệ thuộc vào nối tiếp quá khứ, hiện tại và tương lai. Cả ba thời khắc đó đan xen lẫn nhau, dường như chúng lôi kéo, đàn áp, dồn nén Dasein khiến nó cảm thấy tê liệt.  Dasein mặc lấy sự trống rỗng (being left empty), bởi vì nó cảm thấy các sự vật bỏ rơi và không màng đến sự hiện hữu của chính nó. Vì thế, Dasein cảm thấy sự trống rỗng trong thời gian lơ lửng đó. 

Khi bàn về khái niệm “thời gian”, ta thấy khái niệm này vốn không xa lạ với các triết gia từ thời Anaximander (triết gia tiền Socrates) cho đến Henri Bergson (1859-1961), nhưng có thể nói Heidegger đã xem thường cách hiểu của các triết gia này khi họ quan niệm cách ngớ ngẩn, ngây thơ về “thời gian” (như sự biến dịch, sự trở thành) là cái đối lập với “hữu thể” (being), nghĩa là cái bất biến, vĩnh cửu đối lập với cái phi-thời-gian và cái siêu-thời-gian.  Heidegger cho rằng không thể hiểu về “hữu thể và thời gian” (being and time) như là một cái bình chứa đựng một vật gì đó, nghĩa là hữu thể nằm trong thời gian, và xem đó là điều hiển minh không cần tra vấn. Cách hiểu “thời gian” như thế đã ‘cắt giảm’ và giản lược thành hữu thể “ở trong” thời gian, nhưng thực tế, không chỉ “ở trong” thời gian mà “hữu thể cần được hiều từ thời gian”, theo thời tính của bản thân hữu thể.  Điều này minh giải cho cái “vô-thời-gian” và “siêu-thời-gian” cũng có thể được suy tưởng từ bối cảnh hay hậu cảnh là thời gian, một thể cách của thời gian mà thôi. Luận điểm then chốt này được Heidegger triển khai ngày trong phần I, chương 3 và 4 của tác phẩm “Being and time” (ông phân biệt rõ “tồn tại trong thế giới” (Sein innerhalb der Welt/ Being within the world) của những cái tồn tại “có-đó” và “Tồn-tại-trong-thế-giới” (“In-der-Welt-sein”/ “Being-in-the-world”) như là nét phổ sinh chủ yếu của Dasein).  Cụ thể, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn mối liên hệ của Dasein trong thời tính ở các phần dưới đây.

Trước hết, ta cần phân biệt thuật ngữ “Thời gian tính” (Temporalitӓt) liên quan đến mọi thể cách tồn tại khả hữu của bản thân hữu thể và thuật ngữ “Thời tính” (Zeitlichkeit) chỉ dành riêng cho thể cách của Dasein, vốn được đặt cơ sở trên “Thời gian tính”.  Xét về mặt hữu thể học, thứ nhất Dasein là thời tính, nghĩa là luôn có sự hiểu biết về hữu thể; thứ hai Dasein hiện hữu một cách thời tính, hiểu theo nghĩa là nói về hữu thể thì cũng cần nói về thời gian. Sự hiện hữu được thể hiện trọn vẹn khi nó lệ thuộc vào thời gian tính (temperative), nghĩa là hữu thể được đặt nền tảng trong thời gian tính (Being is grounded in temporality).  Ví dụ, khi nói về Martin Heidegger (1889-1976) thì cũng kèm theo năm sinh và năm mất của ông, để hiểu rằng Heidegger đã hiện hữu trong khoảng thời gian đó. Với Heidegger, Dasein hiện hữu và được tỏ lộ trong thời tính với những tại thể khác trong thế giới và đảm nhận cuộc sống của mình. Ngoài thời gian thì mọi ý niệm về hữu thể đều vô nghĩa. Chính vì thế, hữu thể luôn đi kèm với thời gian (being and time).  Do đó, Heidegger gọi thời gian là “chân trời của mọi sự hiểu biết về hữu thể”.  Đây là vấn đề cốt lõi của hữu thể học mà Heidegger muốn xây dựng.

Ta thấy rõ quan niệm về thời gian của Heidegger khác hẳn quan niệm của Kierkegaard: Kierkegaard tin rằng có một bước nhảy vọt về phẩm chất (qualitatif) và thời gian sẽ thay thế bởi vĩnh cửu (éternité); trái lại, Heidegger cho rằng thời gian tính chỉ gồm có cuộc hiện sinh ta đang có và nhờ đó ta khám phá cho mình ý thức về sự hiện hữu của mình.  Thời gian không có cùng tận, nhưng chính vô cùng tận tính ấy lại là một chuỗi liên tiếp những biến cố được kéo dài từ quá khứ đến hiện tại, và tương lai của Dasein. Bản tính hiện sinh nơi Dasein luôn hàm chứa sự thiếu thốn cái gì đó, đó là tính hữu hạn. Trong cuộc hiện sinh, Dasein đảm nhận lấy nơi chính mình một định mệnh, đó là sống trong thời gian và khắc khoải lo âu để tìm ra ý nghĩa của hiện hữu. Chính trong lo âu (angst), con người tìm gặp bản chất sâu xa của chính mình, không phải một cảm giác xa đọa cho bằng cảm thấy thực thụ tính của chính mình trong thời gian.

Để mở rộng thêm vấn đề, thiết nghĩ ta cũng cần đề cập thêm một chút về Dasein và thời tính trong phần V, Thời tính và Sử tính (Being and time, V. Temporality and Historicality), Heidegger quan niệm rằng Dasein có quyết hướng tính (Entschlossenheit, determination: khả năng quyết định điều gì đó) khi đối diện với chính mình, quyết hướng tính đó hướng cận về tương lai dù rằng tương lai sau cuối sẽ trở thành quá khứ, khi Dasein như nó đã là. Chỉ có những gì xuất hiện nơi hiện thể mới đưa khả tính cho thể quyết tính trong nhất thể tính của Dasein, khi đó, thời tính (Zeitlichkeit) là ý nghĩa của ưu tính và hiện hữu, bởi lẽ thời tính là xuất hóa tính và là ngoại quá nguyên sơ (Ursprüngliche Asser-sich). Vậy, quá khứ, hiện tại và tương lại, tất cả đều là “xuất hóa thể” (Ekstasen, ecstasies,extases) của thời tính, trong đó với Dasein, tương lai là yếu tố dẫn đầu.  Ta có thể thấy, mọi sự vật được lý giải trong thời gian tính bởi lẽ chúng khả dĩ. Dasein cũng không ngoại lệ, nhưng Dasein hiện hữu, tự nơi mình, nó có khả năng khoáng trương (Dasein need an extensive ability). Heidegger gọi là là “diễn tính” (Geschehen, happen, arriver) của Dasein, khi vận tính dành riêng cho sự khoáng trương của thể tính, và vén mở cơ cấu của diễn tính thiết lập nên lý giải về sử tính (Geschichtlichkeit). Lúc đầu, Dasein được Heidegger xem như là lịch sử, nhưng sau đó, với thể hướng nội, và cả thế giới, ông xem Dasein khi hiện hữu như là thời hóa (Zeitigen). Nghĩa là thời hóa khi Dasein hiện hữu trong thế giới (hữu-tại-thế).  Từ suy luận đó, Heidegger khai triển một lý thuyết về thời thể.

Tựu trung, khi nói về vấn đề thời gian, Heidegger cho rằng: "Thời gian là sự cảm thụ thuần tuý về mình. Chính thời gian tạo thành cái đích để tung mình về phía trước và do vậy, thời gian làm nên kết cấu căn bản của chủ thể tính".  Nghĩa là theo Heidegger, thời gian không là gì khác hơn ngoài thời tính (temporalitaet) và Dasein là cái kiến tạo nên thời gian. Chỉ khi con người hiện hữu thì thời gian mới trở nên có ý nghĩa, tự bản chất con người là phóng ném mình về phía trước, hướng mình về tương lai, hoặc cũng có thể ‘phóng ném’ mình về phía sau. Heidegger cho rằng khả thể ‘phóng ném’ này của con người đó là thời tính. Bởi lẽ, nơi bản chất sâu xa của con người, là hiện hữu và hiện diện trong thế giới nhưng luôn mang trong mình nỗi niềm nhớ nhung quá khứ trong phút giây hiện tại, và ước vọng, hướng tâm trí về tương lai. Do đó, Heidegger cho rằng “chúng ta chỉ là cái mà chúng ta đã là”.  Thế nhưng, với thời tính, Dasein không chỉ dừng lại ở khả thể ‘phóng ném’, nhưng sâu thẳm bên trong, Dasein còn chất chứa những nỗi khắc khoải, ưu tư về sự hiện hữu của mình, một hiện hữu với cái gì khác mình và hiện hữu cho đến khi nào? Phải chăng là hiện hữu cho đến chết là hết đời Dasein? Chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này trong đề mục tiếp theo.

2. Nỗi khắc khoải của Dasein với hiện-hữu-cận-lân và hiện-hữu-cho-đến-chết

Càng đào sâu hơn về nỗi ưu tư, khắc khoải của Dasein, Heidegger càng cho rằng yếu tính của hữu thể là hiện hữu vì (esse per) cái gì đó, hiện hữu để làm cái gì đó. Ở đây, ông cho rằng Dasein hiện hữu vì và với các tại thể khác, đồng thời nó cũng hiện hữu cho đến cái chết, là cái cùng tận của hữu thể (the end of being-in-the-world is death).  Chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa về sự hiện hữu của Dasein với nỗi ưu tư về hiện-hữu-cận-lân và hiện-hữu-cho-đến-chết trong các phần dưới đây.

Hiện-hữu-cận-lân (Seinsverhaltnis, Being-with-one-another, Rapport d'être). 

Dasein hiện hữu cùng các tại thể khác (Fürsorge), giữa chúng có sự hỗ tương lẫn nhau, đó là sự trao thông, bận tâm” (besorgen) lẫn nhau. (In Being with and towards Others, there is thus a relationship of Being [Seinsverhaltnis] from Dasein to Dasein.)  Trong thế giới này, Dasein không chỉ dừng lại nơi các sự vật hiện hữu, nhưng còn giữa con người với nhau (Mitdasein), đây là tinh thần liên đới (solidality), tương thân (sympathie) nơi Dasein. Thật vậy, để củng cố hơn cho ý niệm này, Heidegger đã nhận định: "Hiện hữu là tự vượt qua mình để đạt tới cái khả hữu của mình. Tự vượt mình là bỏ cái mình hiện nay để đi tới một hiện hữu đang ẩn hiện trước mắt mình. Cái hiện hữu ẩn hiện trước mắt con người - đó là khả hữu (sein-koennen, pouvoir-être)". 

Do đó, hiện-hữu-cận-lân chính là phương cách hiện hữu loại biệt của Dasein, nó mang ý nghĩa của hữu thể nơi cội nguồn, nghĩa là hiện hữu này với hiện hữu kia cùng hỗ tương, khi cả hai cùng mang chiều kích nguồn cội (co-originalité). Hiện-hữu-cận-lân mặc lấy chiều kích hiện sinh của Dasein khi nó hệ tại nơi tính liên-chủ-thể (tôi-tha nhân). Chính trong chiều kích liên chủ thể đó - một “hữu-thể-kề-cận” - sẽ mở lối giúp chúng ta được trở về với chính mình, gặp gỡ chính mình cách tiên thiên và chân thật nhất (Omne ens est verum: mọi tại thể đều chân thực). Sở dĩ hai cục đá nằm kề cận nhau thì khác hẳn hai người đồng hành với nhau, đó là sự khác biệt giữa “res extensa (vật vô tri)” với “res cogitans (con người có suy tư)”. Đây cũng chính là điều mà Heidegger gọi là Bewandtniszusammenhang (các hữu thể liên kết với nhau để tạo nên thế giới tính, hiểu theo nghĩa hiện tượng luận).  Cách chung, vấn đề của hữu thể hiện sinh là chiều kích liên-chủ-thể. Đồng thời, hữu thể “xuất cư” nơi Dasein có siêu việt tính, không gì khác hơn là hiện-hữu-giữa-thế-giới. Chính khi siêu việt tính được thi thố, được phô diễn thì là một cách thức giải thoát Dasein với sự tự do, thanh thản nơi cội nguồn, sức mạnh đích thực tuôn trào và nhờ đó Dasein có thể quay về phía sự vật với một phong thái cần có.

Tuy nhiên, khi Dasein hiện-hữu-kề-cận, hướng mình về các tại thể khác, Heidegger cho rằng Dasein phải đối diện với hai khả thể là hiện hữu phi chân (inauthentic) và hiện hữu bản chân (authentic). Hiện hữu phi chân là Dasein bị vong thân (lostnes) trong thế giới với cái thường hằng mà nó bị ảnh hưởng, Dasein không có tự do và trách nhiệm nên nó mặc lấy sự sợ hãi và trốn lánh cái chết. Đang khi đó, hiện hữu bản chân là Dasein tìm lại chính mình trong cái thường hằng, đảm nhận chính mình và đón nhận cái chết hoàn toàn với sự ý thức thực sự. Đây mới là ý nghĩa của sự hiện sinh đích thực, theo cái nhìn của Heidegger.  

Thật vậy, với Heidegger để Dasein hiện hữu bản chân, mặc dù hướng mình về tha thể, nhưng nó cần không lệ thuộc và rút khỏi tha thể như chọn lựa khả dĩ để hiện hữu trung chính nhất. Ông cho rằng đây là khả tính của Dasein, nó khởi đi từ ý thức (gewissen), đáp lại lời mời gọi, thôi thúc không ngừng nơi cội nguồn của Dasein, nó từ khước nghe theo lời phiếm luận từ tha thể. Tiếng nói sâu thẳm nơi cội nguồn đó, Heidegger cho rằng không hẳn đến từ thế lực xa lạ, cao siêu (như Thượng Đế chẳng hạn), nhưng từ ưu việt tính, nghĩa là Dasein ưu tư về khả tính của chính mình.   Như đã trình bày bên trên, trong sự trầm mặc, ưu tư, khắc khoải mà khả tính nơi Dasein được khơi lên, cái mà vốn tiềm tàng nơi thể tính của chính nó. Khả tính đó với khả năng tự do nơi Dasein đó là “quyết tính” (Entschlossenheit: khả năng quyết định vấn đề nào đó), thậm chí với tử vong tính (nghĩa là có khả năng đón nhận cái chết của chính mình). Heidegger cho rằng chỉ có quyết tính mới làm cho Dasein thoát ly khỏi sự chi phối của tha thể, rời xa tình trạng hiện hữu phi bản chân ngu muội, vốn tiềm tàng nơi chính mình. Với quyết tính, con người can đảm đón nhận định mệnh cuộc đời và phóng mình về tha nhân với tất cả tha thể tính của họ, với sự bình tâm và chân thực. 

Hiện-hữu-cho-đến-chết (Sein zum Tode, being unto death, être jusqu'à la mort). 

Khi hiện hữu trong thế giới, Dasein mặc lấy sự ưu tư, khắc khoải về tự thể của chính mình, về ý nghĩa hiện hữu với lời mời gọi thẳm sâu là hướng về tha thể (man/ one), đôi khi còn tìm chỗ trú ngụ nơi đó. Heidegger cho rằng hiện hữu mà Dasein bị thao túng, bị ru ngủ, cám dỗ, tha hóa bởi tha thể thì đó là hiện hữu của Dasein ở thể-bất-chính, tầm thường, phi chân. Thậm chí, Heidegger còn gọi là “nó ngoại hiện trong phiếm luận (Gerede)” , nghĩa là bỉ ngôn của tha thể quyến rũ và trở thành thực tại cho Dasein. Điều này khiến Dasein bị xáo động, tiêu thoát, hàm hỗn, loạn tri (không còn phân biệt điều gì biết với điều không biết), ông còn gọi đó là sự thoái đọa (Verfallen) của Dasein. Nếu Dasein không tự thoát ly, khước từ lời ‘ru ngủ’, ‘bỉ ngôn’ của tha thể thì nó sẽ thoái trào, xa đoạn và chìm ngủm trong thế giới vô minh. Vô minh cũng có thể hiểu là Dasein vì quá ưu tư, lo lắng, sợ hãi về cái chết khiến nó hiện hữu bất-chính-thể, phi chân (non-vérité). Thậm chỉ, có lúc tha thể dùng ‘bỉ ngôn’ đề chèo khéo khiến Dasein không dám đối diện với cái chết, thậm chỉ là nói trống không về sự chết như là “người ta chết”  (one dies, man stirbt).

Thế nhưng, Heidegger cho rằng dù muốn dù không, ta cũng phải thừa nhận rằng khả thể đặc thù của hữu thể là cái chết, thật vậy, ông quan niệm: “xét theo bản thể học, sự chết được thiết lập bởi thuộc-ngã-tính (mineness) và hiện hữu”.  Đối với người sống, cái chết ở dạng tiềm thể, nhưng khi con người tiếp cận cái chết thì nó là hiện thể, khi đó, con người sẽ cảm thấy sự tồn hữu đích thực nơi bản thân, khi cái chết là phận vụ cuối cùng mà mình phải đảm nhận. Nhưng, sự chết theo Heidegger là cuộc hiện sinh không tan biến thành hư vô một cách vô nghĩa, nhưng đó là một cuộc hiện hữu cho đến tận cùng của Dasein (Sein zum Ende), hiện hữu cho hư vô (Sein zum Niehts), hiện hữu cho đến chết (Sein zum Tode) . Ngày nào Dasein còn hiện hữu thì nó chưa đạt được “viên tính” của chính mình, vẫn còn khuyết tính nào đó. Do đó, có thể nói sự chết là cứu cánh của Dasein, và tử thể nơi Dasein cũng chỉ là để hướng về tử thể (l’Être même du Dasein est l’être-pour-la-mort). Một lần nữa, đây chính là cách thế hiện hữu cơ bản và ý nghĩa của Dasein. 

3. Tóm kết

Như Lévinas viết rằng Sein und Zeit của Heidegger “nhằm mục đích mô tả hữu hoặc hiện hữu người, chứ không phải bản chất của anh ta”.  Từ quan điểm này, cùng những phân tích trên, ta nhận thấy triết học của Heidegger chủ yếu nhắm đến việc giải thích mối quan hệ giữa hữu và hữu thể, cụ thể là hữu thể luận nền tảng và Dasein-sự diễn đạt kinh nghiệm (nơi hiện hữu người). Nhìn cách tổng quan, ta thấy con đường hữu thể học mà Heidegger dẫn ta đi là phương pháp hiện tượng luận, nghĩa là các hữu thể chỉ xuất hiện trong các hiện tượng, trong những vật mà yếu tính chỉ là xuất hiện (das Sich an ihm selbst zeigende). Điều đặc biệt là khi nghiên cứu về Dasein, ông không đi theo cái gì tổng quát và bền bỉ nữa, nhưng là nghiên cứu về các giai đoạn biến dịch của Dasein. Nội dung chính của Being and time cũng chỉ quy hướng về phân tích ấy. 

Cách chung, khi bàn về hữu thể là bàn về cách thế xuất hiện của hữu thể trong những trạng thức của “vật hiện hữu tại đó’. Yếu tính của hữu thể là ở sự hiện hữu của nó, tại đó, chứ không hẳn nghiên cứu về những sự nó gồm có. Còn khi bàn về Dasein thì cũng có nghĩa là bàn về thời tính, nghĩa là luôn có sự hiểu biết về hữu thể; thứ đến, Dasein hiện hữu một cách thời tính, hiểu theo nghĩa là nói về hữu thể thì cũng cần nói về thời gian. Bởi lẽ, chỉ khi con người hiện hữu thì thời gian mới trở nên có ý nghĩa. Heidegger gọi thời gian là “chân trời của mọi sự hiểu biết về hữu thể”.  Đây là vấn đề cỗt lõi của hữu thể học mà Heidegger muốn xây dựng.

Tóm lại, khi nói về nỗi khắc khoải, ưu tư của Dasein và hiện-hữu-cận-lân cũng như hiện-hữu-cho-đến-chết thì ta có thể hiểu cách khái quát là theo quan niệm của Hedegger, tự nơi cội nguồn thẳm sâu, với hiện hữu của chính mình, Dasein có lời gọi mời đó là sự quan tâm.  Sự quan tâm đó khởi đi từ hiện-hữu-thiếu-hụt (being with a lack) cái gì đó.  Do đó, Dasein luôn hướng về tại thể khác trong hai tâm thế vừa là kẻ gọi (caller) và vừa được gọi (called), Dasein gọi tại thể khác và tại thể khác cũng đang kéo gọi Dasein để cả hai được trở nên hiện hữu bản chân cho chính mình.  Trong khi phóng ném chính mình về tại thể khác, tự nơi mình, Dasein có một cảm-thức-hoài-hương ẩn khuất sâu kín nơi cội nguồn của nó.  Điều này thúc bách để Dasein tự do chọn lựa và sống sự chọn lựa ấy đó và Heidegger gọi khả thể khởi phát đó là từ lương tâm và ông gọi nó là quyết tính. Quyết tính của Dasein cũng chỉ là lời đáp lại tiếng gọi và sự thúc bách sâu thăm mang tính huyền nhiệm, mà Hedegger đã đề cập trong tác phẩm Buông Xả Thanh Thản. Kỳ lạ thay, khi gần về cuối đời, Heidegger cảm nhận sâu sắc được lời mời gọi huyền nhiệm đó chính là tiếng nói của Thượng Đế, ông nói rằng “Only God saves us-Chỉ có Thiên Chúa mới cứu chúng ta”.  

Tác giả: Minh Đức SJ

Bibliography

Jean Grondin, Introduction to metaphysics: from Parmenides to Lévinas, translated by Lukas Soderstrom, New York: Columbia University Press, 2012.

Martin Heidegger, The Fundamental Concepts of Metaphysics – World, Finitude, Solitude, trans. William McNeill & Nicholas Walker, Bloomington: Indiana University Press, 1995.

http://www.triethoc.edu.vn

M.Heidegger. Kant et le problème de la métaphysique. Paris.

Trần Thái Đỉnh. Triết học hiện sinh. Nxb Văn Học, 2008

Đậu Văn Hồng, Dẫn vào Hữu Thể Luận, Tra vấn chức năng Meta, Tài liệu triết học, lưu hành nội bộ, 2005

Emmanuel Lévinas, Ethics and Inginity, translated by Richard A. Cohen, (Pittsburgh: Duquesne University Press, 1985

Heidegger, Martin. Being and Time. 7th. Translated by John Macquarrie and Edward Robinson. Oxford: Blackwell Publishers, 2001.

24.11.2025

A.M.D.G

Minh Đức, SJ

Lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam