Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026

Đã Từng Có Lúc Ta Hỏi Chúa: “Tại Sao?”

 

Đã Từng Có Lúc Ta Hỏi Chúa: “Tại Sao?”



Có những lúc ta nhìn vào cuộc đời mình và tự hỏi: “Tại sao lại như vậy, lạy Chúa? Tại sao Chúa không bảo vệ con? Tại sao Chúa để điều này xảy ra? Tại sao con phải trải qua những điều mà con không hiểu? Lạy Chúa, Ngài có thực sự yêu con không?”

Có những lời cầu nguyện không phải là những lời đẹp đẽ, bởi đôi khi cầu nguyện chỉ là một tiếng thở dài, một giọt nước mắt, một câu hỏi, một lời trách móc, than thở, hay một tiếng kêu cầu từ tận đáy lòng: “Lạy Chúa, sao Ngài im lặng?”

Nhưng rồi ta dần nhận ra một điều: sự im lặng của Thiên Chúa không có nghĩa là sự vắng mặt của Ngài. Có những lúc ta không hiểu được con đường Chúa đang dẫn mình đi. Có thể ta chỉ nhìn thấy một đoạn đường tối tăm trước mặt và ngán ngẩm, chán chường bước đi thậm chí có đôi khi còn muốn quay lại hoặc bỏ cuộc, chạy trốn. Dường như, ta muốn biết ngay câu trả lời cho tất cả từ những chữ “tại sao”?

Nhưng Đức Tin đôi khi không phải là có câu trả lời cho mọi câu hỏi. Apraham ra đi nhưng không biết mình sẽ đi về đâu và như thế nào? Đức Mẹ thưa lời “Xin Vâng” nhưng cũng không biết rõ tương lai sẽ như thế nào? Thánh Giuse chỉ thấy dấu chỉ hầu như lờ mờ qua một giấc mơ. Nhưng các ngài đều tín thác vào kế hoạch tình yêu của Chúa, bởi “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1). Vì thế, trong những thung lũng tối tăm nhất của cuộc đời, điều ta cần không phải là một lời giải thích hoàn hảo, nhưng cần một xác tín mạnh mẽ rằng: “ta cần biết rằng tôi không bước đi một mình, nhưng có Chúa vẫn âm thầm dõi bước và song hành với ta, tựa như hai môn đệ trên đường Emmaus.

Hãy Bắt Đầu Bằng Việc Yêu Thương Chính Mình

Trong chuyện kiếm hiệp của Kim Dung có một câu rất nổi tiếng mà nhiều người thường lặp lại “mình mà không thương mình thì trời chu đất diệt”. Câu nói này với hàm ý: nếu một người không biết trân trọng sinh mệnh và hạnh phúc của chính bản thân, thì ngay cả trời đất cũng không dung tha hoặc đó là điều trái với quy luật tự nhiên. Chính Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta: “Hay yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22:37-39).

Yêu thương chính mình không phải là nuông chiều nhu cầu thân xác theo kiểu bản năng: đói thì ăn thật nhiều, mệt thì ngủ thật lâu, thích điều gì thì làm… Nhưng một trong những bài học đầu tiên của chữa lành thân xác qua việc yêu thương chính mình đó là Lòng Tự Trọng. Lòng Tự Trong không phải sự kiêu ngạo, cũng không phải nghĩ rằng mình hơn người khác, nhưng nhận ra rằng: tôi cũng là một con người có phẩm giá, có giới hạn, có những yếu đuối và vẫn xứng đáng được yêu thương, tiếng Anh gọi là High self-esteem (Lòng tự trọng cao).

Bởi vì, nếu tôi không biết tôn trọng chính mình, tôi rất dễ rơi vào hai thái cực: một là kiêu ngạo tự mãn (arrogant, complacent, self-satisfied; hai là tự ti, co mình (unconfident, insecure). Hoặc sẽ sống cả đời để tìm kiếm sự công nhận của người khác, nghĩa là ta cần người khác nói mình giỏi, đáng yêu, và cho rằng đó là những giá trị của bản thân. Vì thế, nếu người khác không làm điều đó thì có thể tôi sẽ bị sụp đổ, vỡ mộng, buồn sầu…

Nhưng giá trị của một con người không thể được quyết định hoàn toàn bởi lời khen hay lời chê của người khác. Trong niềm tin Kitô giáo, phẩm giá của con người không bắt đầu từ thành công hay thất bại của bản thân, nhưng con người có gì trị vì được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và được Người yêu thương vô vàn. Và dĩ nhiên, ta không cần trở thành một con người hoàn hảo mới được yêu thương, ta được yêu thương ngay cả khi chính mình đang trên hành trình trở nên tốt hơn. Chính từ tình yêu ấy, ta có thể học cách yêu thương người khác cách lành mạnh hơn.

M. Đức

CHỮA LÀNH TỪ NHỮNG TỔN TƯƠNG BÊN TRONG

 

CHỮA LÀNH TỪ NHỮNG TỔN TƯƠNG BÊN TRONG

Khi bên ngoài tôi vẫn ổn, nhưng bên trong trái tim tôi đang rỉ máu



Có những vết thương không rỉ máu, chúng không để lại trên cơ thể một vết sẹo nào để người khác có thể nhìn thấy, nhưng chúng nằm sâu trong ký ức, trong những điều ta không bao giờ muốn nhắc lại. Những vết thương đó có thể là một câu nói đã nghe từ rất lâu nhưng đến hôm nay vẫn còn làm ta đau đớn, có thể là một lỗi lầm mà ta gây ra, xúc phạm đến người khác, hoặc chính những người khác phũ phàng tác động đến ta… Có những tổn thương đến từ một tuổi thơ thiếu thốn tình yêu, một gia đình không trọn vẹn, một cuộc chia ly, một lần bị phản bội, một thất bại, một lựa chọn sai lầm, hay đơn giản chỉ là những năm tháng ta đã cố gắng quá lâu để trở thành một người mà người khác mong muốn.

Điều đáng sợ nhất là có những người đã quen với việc nói: “Tôi ổn.” Họ vẫn đi làm, vẫn cười nói, vẫn gặp gỡ bạn bè, vẫn đăng những bức ảnh vui vẻ, vẫn cầu nguyện, vẫn giúp đỡ người khác. Nhìn từ bên ngoài, dường như cuộc đời họ chẳng có gì đáng lo. Nhưng khi đêm xuống, khi căn phòng trở nên im lặng, khi chiếc mặt nạ được tháo ra và không còn phải diễn vai một người mạnh mẽ nữa, họ mới nhận ra bên trong mình có một khoảng trống rất lớn.

Có thể bạn cũng từng như thế, đã từng mỉm cười trong khi lòng mình muốn khóc, đã từng nắm chặt bàn tay và nghiến răng thầm thĩ “cố lên”, có thể bạn đã từng nói “không sao đâu” trong khi bên trong là một tiếng kêu cứu, hoặc từng cố gắng tha thứ cho người khác nhưng lại không thể tha thứ cho chính mình, hay từng yêu thương rất nhiều người nhưng lại không biết phải yêu thương chính mình như thế nào. Và có lẽ, điều đau đớn nhất không phải là người khác không yêu thương bạn, mà là bạn đã dần tin rằng mình không đáng được yêu thương.

 

Vết thương bên trong không tự biến mất

Chúng ta thường nghĩ rằng thời gian sẽ chữa lành mọi thứ, nhưng thời gian không phải lúc nào cũng chữa lành. Có những điều, nếu không được nhìn nhận và đối diện, càng để lâu càng trở thành một vết thương sâu hơn. Chẳng hạn, một vết loét bị nhiễm trung, nếu cứ nghĩ theo thời gian cơ thể tự chữa lành thì không khéo bệnh tình ngày càng năng hơn và phần da thịt đó sẽ bị hoại tử và phải tháo khớp hoặc đại phẫu thuật.

               Có những vết thương trong quá khứ mà không ít người từng phải trải qua. Một người từng bị bỏ rơi có thể lớn lên với nỗi sợ bị bỏ rơi; Một người từng bị coi thường có thể cả đời cố gắng chứng minh giá trị của mình; Một người từng thất bại có thể luôn sống trong nỗi sợ thất bại lần nữa; Một người từng làm tổn thương người khác có thể mang theo mặc cảm và tội lỗi suốt nhiều năm.

Có người không dám yêu vì sợ bị tổn thương; có người không dám tin vì đã từng bị phản bội; có người luôn tức giận bởi vì bên dưới cơn giận ấy là một nỗi đau chưa từng được gọi tên. Theo tâm lý học, một người có hành vi bợm trợn, “hổ báo cáo chồn”, hung hăng và dễ gây hấn… thì sâu thẳm trong tâm hồn họ là một trái tim bị tổn thương trong quá khứ, có thể người đó bị xúc phạm, thiếu tình yêu thương từ thuở bé thơ… Nếu càng nhìn kỹ và thấu suốt tâm can họ, ta lại thấy họ đang thương hơn là đáng trách.

               Trong tâm lý học hiện đại đã giải thích rằng: Người nào càng thiếu thứ gì thường càng muốn chứng minh mình có thứ đó: Thiếu tiền thích khoe tiền, thiếu hiểu biết thích khoe hiểu biết, thiếu bản lĩnh thích khoe bản lĩnh, nhưng khí chất thật sự giống như hương thơm, người khác sẽ tự cảm nhận được.

               Dĩ nhiên, chúng ta thường nhìn thấy ngọn cây, nhưng không nhìn thấy bộ rễ. Một người dễ nóng giận có thể không phải là một người xấu, có thể phía sau cơn giận ấy là một nỗi sợ hãi, lo lắng, bất an nào đó. Một người luôn kiểm soát người khác có thể không đơn giản là ích kỷ, nhưng có thể họ từng trải qua cảm giác hoàn toàn bất lực trước ngặt nghèo, cùng khổ nào đó. Một người luôn tỏ ra mạnh mẽ có thể chính là người đang yếu đuối nhất… Bởi vậy, chữa lành không bắt đầu bằng việc ép mình phải vui, nhưng chữa lành bắt đầu bằng việc đủ can đảm để nhìn vào nơi mình đang đau.

Khi tôi xem lại chính mình qua một bộ phim

Khi một người hỏi Đức Giáo Hoàng Leo XIV rằng: “Đâu là bộ phim có tính nhân văn đã đánh động và gây ấn tượng sâu sắc đến Đức Thánh Cha? Đức Lêo XIV không ngần ngại trả lời bộ phim “Ordinary PeopleNhững người bình thường.”

Tôi đã dành một vài tiếng đồng hồ để xem bộ phim trên. Đó là câu chuyện về một gia đình tưởng như bình thường nhưng bên trong lại chất chứa rất nhiều đau khổ. Người mẹ luôn cố gắng tỏ ra mình ổn. Bà vẫn sống, vẫn mỉm cười, vẫn giữ vẻ bình thản. Nhưng sâu thẳm bên trong, bà không thực sự hạnh phúc.

Người cha cố gắng kết nối những thành viên trong gia đình, cố gắng giữ mọi thứ không đổ vỡ, nhưng càng cố gắng, ông càng nhận ra có những khoảng cách không thể lấp đầy chỉ bằng sự im lặng.

Người con trai mang trong mình một nỗi đau rất lớn sau cái chết của người anh. Cậu sống với cảm giác tội lỗi, tức giận, hoang mang và những câu hỏi không có lời giải. Cậu muốn thoát khỏi quá khứ nhưng quá khứ vẫn đuổi theo cậu. Chỉ khi cậu gặp được một người đủ kiên nhẫn để lắng nghe, đủ bình tĩnh để không phán xét, cậu mới bắt đầu nhìn vào chính mình.

Cậu bắt đầu hiểu nỗi đau của mình và bắt đầu chấp nhận mình, cũng như tha thứ cho chính mình. Và rồi cậu bắt đầu kết nối lại với những người mình yêu thương.

Tôi nhận ra rằng đôi khi ta không cần một người đến để sửa chữa mình, ta cần một người đủ yêu thương để ngồi bên cạnh chúng ta trong lúc chúng ta đang đau. Có lẽ đó cũng là một trong những điều quan trọng nhất của chữa lành. Không phải chạy trốn khỏi nỗi đau, mà là học cách ở lại với chính mình khi nỗi đau xuất hiện.


M. Đức

Tha thứ trong thinh lặng và sức mạnh của sự vắng mặt

 

Tha thứ trong thinh lặng và sức mạnh của sự vắng mặt




Đôi khi, sự vắng mặt của bạn lại là bài học lớn nhất dành cho một người nào đó. Có những điều không cần phải giải thích quá nhiều, có những tổn thương không cần phải nhắc lại mãi. Đôi khi, im lặng và bước đi chính là cách tốt nhất để tha thứ.

Tha thứ không đơn thuần là quên đi lỗi lầm của người khác. Tha thứ là buông bỏ sự tức giận, không tiếp tục nuôi dưỡng lòng oán hận và cho người khác cơ hội nhìn lại chính mình. Tuy nhiên, có người nói rằng mình đã tha thứ, nhưng nếu có cơ hội thì vẫn nhắc lại lỗi lầm của người khác. Nếu một vết thương không được chữa lành hoàn toàn thì mỗi khi trái gió trở trời, vết thương đó lại “bưng mu” nhức nhối...

Trong tâm lý học, tha thứ trước hết là một quá trình diễn ra trong nội tâm. Đó là khi ta dần giải tỏa cơn giận, chấp nhận những gì đã xảy ra và rút ra bài học cho chính mình. Tha thứ không nhất thiết đồng nghĩa với hòa giải, nối lại mối quan hệ hay tin tưởng người đó như trước.

Chẳng hạn, một người bạn từng phản bội lòng tin của bạn. Bạn có thể chọn không trả thù, không nói xấu và không nuôi lòng thù hận. Nhưng điều đó không có nghĩa bạn phải tiếp tục thân thiết và trao cho họ sự tin tưởng như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Bạn tha thứ, nhưng vẫn giữ một khoảng cách cần thiết để bảo vệ chính mình.

Đó chính là tha thứ trong thinh lặng – một dấu hiệu của sự trưởng thành về cảm xúc. Người chưa trưởng thành thường muốn thắng trong mọi cuộc tranh cãi, muốn chứng minh mình đúng hoặc khiến người khác phải trả giá. Nhưng người trưởng thành hiểu rằng không phải cuộc chiến nào cũng đáng để tham gia, bởi vì có những người càng giải thích, họ càng không hiểu; càng tranh cãi, cả hai càng làm tổn thương nhau.

Dĩ nhiên, thinh lặng không phải là thua cuộc. Đôi khi, đó là sự lựa chọn của người biết làm chủ cảm xúc và không muốn lãng phí năng lượng cho những cuộc chiến vô nghĩa. Vì thế, sự vắng mặt của bạn đôi khi cũng có thể khiến người khác nhận ra giá trị mà trước đây họ từng xem nhẹ. Bởi, con người thường chỉ nhận ra giá trị của một điều khi đã đánh mất nó. Một người con có thể từng xem những bữa cơm mẹ nấu mỗi ngày là điều bình thường. Cho đến một ngày, khi mẹ không còn nữa, căn nhà vẫn còn đó, căn bếp vẫn còn đó, nhưng không gì có thể lấp đầy khoảng trống ấy và tình yêu của mẹ. Khi ấy, người ta mới nhận ra điều tưởng chừng bình thường lại là một món quà vô giá.

Tương tự như vậy, có những người không nhận ra sự tận tâm, trung thành và tình yêu của bạn khi bạn còn ở bên cạnh. Nhưng đến một ngày bạn im lặng và bước ra khỏi cuộc đời họ, họ mới bắt đầu cảm thấy trống vắng và tiếc nuối. Trong tâm lý học, con người thường nhạy cảm với mất mát hơn là biết trân trọng những gì mình đang có. Vì thế, đôi khi sự im lặng của bạn còn mạnh hơn rất nhiều lời giải thích. Bởi có những người chỉ hiểu giá trị của bạn khi họ không còn có thể liên lạc với bạn như trước.

Rời đi trong bình an đôi khi cũng là một biểu hiện của lòng tự trọng. Có những lúc bảo vệ sự bình yên trong tâm hồn quan trọng hơn việc cố gắng chứng minh ai đúng, ai sai. Bạn không cần phải khiến tất cả mọi người hiểu mình, càng không cần phải giữ mãi những người chỉ biết làm tổn thương mình. Tin Mừng kể lại việc đám đông dân chúng phẫn nộ với lời giảng dạy của Chúa Giêsu nên họ tính đem Ngài lên núi để xô đẩy xuống vực. Nhưng Chúa Giêsu băng qua giữa họ mà đi (Lc 4,16-30).

Thinh lặng rời đi, điều đó không có nghĩa là sống ích kỷ hay lạnh lùng, nhưng đó là nhận ra rằng năng lượng, thời gian và tình cảm của mình cũng có giá trị, và không phải ai cũng xứng đáng được tiếp cận chúng một cách vô giới hạn.

Có những người vốn hiền lành, tốt bụng và luôn sẵn sàng hy sinh, nhưng chính vì thế họ lại dễ bị lợi dụng. Họ nhẫn nhịn quá lâu, cho đi quá nhiều và tha thứ quá nhiều, đến một ngày kiệt quệ về mặt cảm xúc, họ buộc phải nói: “Đủ rồi!” Khoảnh khắc ấy không phải là họ trở nên xấu xa, đó có thể là lúc họ bắt đầu biết yêu thương và bảo vệ chính mình.

Tha thứ trong thinh lặng không phải là chạy trốn, cũng không phải là yếu đuối, nhưng đó là quyết định từ bỏ lòng thù hận để tâm hồn được tự do, đồng thời đủ khôn ngoan để không tiếp tục đặt mình vào những nơi khiến mình tổn thương. Đôi khi trong cuộc sống, phản ứng mạnh mẽ nhất không phải là một lời đáp trả, mà là sự im lặng. Không phải vì ta không còn điều gì để nói, nhưng vì ta đã hiểu rằng bình an của tâm hồn quan trọng hơn việc chiến thắng một cuộc tranh cãi.

Bởi trong thực tế, sự vắng mặt của bạn không phải là một hình phạt dành cho người khác, mà đơn giản là món quà bình an cuối cùng bạn dành cho chính mình.


M. Đức

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

BÀI VIẾT CUỐI KHÓA MÔN KITÔ HỌC: ĐỨC GIÊSU LÀ AI

 

BÀI VIẾT CUỐI KHÓA MÔN KITÔ HỌC: ĐỨC GIÊSU LÀ AI?





Đức Giêsu là ai?” có lẽ là câu hỏi được rất nhiều người ở mọi thời và mọi nơi đặt ra. Nhiều người đã thắc mắc: tại sao những tín hữu của Kitô Giáo lại đi thờ phượng một người chết trần trụi, nhục nhã trên thập giá? Đang khi đó, những tôn giáo bạn như: Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo…họ tôn thờ những Đấng Sáng Lập tôn giáo của họ với hình tượng vui vẻ, ung dung, tự tại, điềm đạm và siêu thoát. Có lẽ câu trả lời chỉ được tìm thấy trong Kinh Thánh của Kitô Giáo, đặc biệt trong Tân Ước của Công Giáo. Nơi đó họ sẽ thấu hiểu rõ hơn về Đức Giêsu Kitô với nhiều khía cạnh phong phú khác nhau.

Thật vậy, Kinh Thánh đã không ít lần đề cập đến câu hỏi về Đức Giêsu: “
Người này là ai?”. Khi mới theo Đức Giêsu, các môn đệ khá ngỡ ngàng vì những hành động lạ lùng của Thầy mình, Ngài đã đi trên mặt biển đến với họ (Mt 14,25), và dẹp yên giông bão trước mặt họ (Mc 4,41). Người Pharisiêu đã tự hỏi với nhau: “Người này là ai?” mà dám nói: “Tội chị đã được tha” (Lc 7,49). Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: "Ông này là ai vậy?" (Mt 21,10). Ngay cả vua Hêrôđê cũng phân vân về Đức Giêsu và nên mới nói: "Ông Gioan, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế! Rồi vua tìm cách gặp Đức Giêsu.” (Lc 9,9).

Dĩ nhiên, có nhiều người đã phỏng đoán về Đức Giêsu như là: “
Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, có người lại cho là Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ” (Mc 16,13), cũng có nhiều người mạnh dạn tuyên bố: Đức Giêsu như là một người làm phép lạ. Quả đúng như họ nói, Đức Giêsu đã làm phép lạ, nhưng phải chăng Ngài chỉ đến trần gian này để làm phép lạ? Không một câu trả lời rõ ràng mang tính thuyết phục nào được đưa ra. Ngài thực sự là ai? Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh dung mạo đích thực của Đức Giêsu như là một Con Người thật và là Con Một Thiên Chúa.

I. ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI THẬT.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận Đức Giêsu là một con người thật. Ngài có “tên là Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét” (Ga 1,45) và “bà Maria là thân mẫu của Ngài” (Mc 6,3). Ngài cũng có những đặc tính, phẩm vị như một con người bình thường. Thật vậy, “Cậu Giêsu đã lớn lên trong khôn ngoan, trong vóc dáng, và trong ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Đức Giêsu được giáo dục trong một môi trường như bao đứa trẻ đương thời, và có lẽ Ngài thường xuyên đến hội đường để học hỏi về Lề Luật, Kinh Thánh, nên Ngài mới thủ đắc và thông thái được nhiều kiến thức trên nhiều bình diện (Lc 2,46-47). Thế nhưng, Ngài không hề xa lạ, ngược lại rất tự nhiên và gần gũi với mọi người ngang qua nhiều hình ảnh và cách thức khác nhau.

Đức Giêsu gần gũi với mọi người. Đức Giêsu đã âm thầm sinh ra trong cảnh cơ bần, nơi hang lừa máng cỏ (Lc 1,7), và rất gần gũi với những người chăn chiên sống ngoài đồng. Trong khoảng ba mươi năm, Ngài sống khiêm cung, ẩn dật tại làng Nadarét, nơi mà Nicôđêmô đã nói: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1,46). Khi bắt đầu công khai sứ vụ, Ngài đã rao giảng Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi thành phần trong dân chúng bất kể giàu nghèo, sang hèn, đàn ông đàn bà, người già người trẻ, người khỏe người đau…, và đặc biệt, Ngài đã tuyển lựa mười hai môn đệ là những người bình dân, ít học (Mc 1,16-20; Lc 5,1-11). Người yêu quý các người tội lỗi (Lc 15,2, Mt 11,19), Ngài chữa lành hết tất cả bệnh hoạn tật nguyền trong dân chúng, Ngài gần gũi với những người nghèo hèn, bệnh tật, gúa bụa, phụ nữ và trẻ em (Mc 10,16; Mt 19,13-14; Lc 18,15-16).

Đức Giêsu là một Rápbi. Khi Đức Giêsu khi bắt đầu sứ vụ công khai loan báo Tin Mừng, Ngài đã tuyển lựa, thâu nhận các môn đệ đầu tiên, và đường lối sư phạm của Ngài khác hẳn các kinh sư và người biệt phái. Ngài thường dùng các dụ ngôn để giảng dạy (Mt 13,3), và kiên nhẫn với các học trò (Mc 6,52; 8,17), có đôi khi, Người nghiêm khắc lên án những thói hư tật xấu của giới lãnh đạo dân chúng (Mt 6,2.5.16; Lc 6,42). Cách thức giáo dục của Ngài làm cho đa phần dân chúng yêu thích, vì “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.” (Mc 1,22). Thẩm quyền nơi vị Rápbi Giêsu này có thể thấy đó là: các Luật Sĩ, Kinh Sư, Pharisêu dạy dân chúng theo luật Môsê (Mt 19,7), luật của Cựu Ước; thế nhưng, Đức Giêsu khác hẳn với họ, Ngài lấy quyền của mình mà giảng dạy: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng:…Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết:…” (Mt 5,21-22).

Đức Giêsu là một ngôn sứ. Đức Giêsu cũng như các vị tiên trị khác trong Cựu Ước, thậm chí còn trổi vượt hơn họ, Ngài có trí hiểu thấu thị tương lai và tâm hồn con người, “Đức Giêsu thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy?” (Mc 2,8). Ngài có khả năng tiên đoán trước các sự kiện gần xảy ra, thật vậy có lần Ngài nói: “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và đem nó về đây” (Mc 11,2). Chỗ khác thì “Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn:"Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?” (Mc 13,13-14). Một tiên thị khác Đức Giêsu đã tiên báo cho các môn đệ là: Ngài sẽ bị nhạo báng, khạc nhổ, đánh đòn và giết chết, nhưng sau ba ngày Ngài sẽ sống lại (Mc 10,33; Mc 6,15; 8,27-28). Đối với các môn đệ trên đường Emmau, họ cho rằng: “Đức Giêsu Nadarét là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” (Lc 24,19). Nói tóm lại, Đức Giêsu đã được dân chúng xem như một ngôn sứ siêu việt thực thụ (Mc 6,15; 8,27-28).

Đức Giêsu cần những nhu cầu như chúng ta. Nhu cầu ăn uống. Đã mang thân phận con người, Đức Giêsu cũng có những nhu cầu vật chất như chúng ta. Ngài cũng cảm thấy mệt, thấy đói như mọi người (Mt 4,2; Lc 4,2). Thật vậy, đang khi Thầy trò đi đường, ngang qua vùng Samari, “Ở đấy,có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (Ga 4,6-8). Đức Giêsu đã xin nước uống từ người phụ nữ Samari ở bờ giếng đó (Ga 4,7). Lúc khác đi đường, Đức Giêsu cũng cảm thấy đói mệt, “ khi thầy trò rời khỏi Bêtania, thì Đức Giêsu cảm thấy đói. Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không.” (Mc 11,12-13). Nhu cầu nghỉ ngơi. Đức Giêsu cũng cần có thời gian để ngủ nghỉ, và có lẽ giấc ngủ của Ngài khá ngon giấc. Tin Mừng thuật lại cho chúng ta: “một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.” (Mc 4,37-38). Nhu cầu chia sẻ. Khi lòng đầy ắp tình yêu và thánh Ý Chúa Cha, Đức Giêsu khát mong chia sẻ những điều quý giá, những giá trị mới của Nước Trời, những điều đích thực, "Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe…” (Mt 13,16-17). Vì thế, Đức Giêsu thường xuyên giảng dạy cho dân chúng, lúc ở trên núi (Mt 5), lúc ở bờ biển, thật vậy, “từ xứ Iđumê, từ vùng bên kia sông Giođan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xiđôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn.” (Mc 3,8-10). Nói chung, Đức Giêsu khát khao chia sẻ nhiều điều cho con người: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16,12).

Đức Giêsu cũng có những cung bậc cảm xúc. Đức Giêsu có đời sống như một người bình thường với đầy đủ cung bậc cảm xúc (thất tình: hỉ, nộ, ai, ái, ố, dục, cụ). Kinh Thánh đã thuật lại cho chúng ta thấy: có những khi Ngài vui mừng hớn hở cầu nguyện với Chúa Cha (Lc 10,21); có lần Ngài xao xuyến trước cái chết của người bạn thân Lazarô (Ga 11,35) và thậm chí trước cái chết của con trai bà góa thành Nain (Lc 7,13); một lần nọ Ngài khóc thương thành Giêrusalem (Lc 13,34-35); có những lúc Ngài tỏ vẻ tức giận, vì một số người cứng lòng tin (Mc 3,5). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài cảm thấy buồn sầu, xao xuyến (Mc 14,33-34); đôi lúc Ngài cảm thấy cô đơn, dường như bị Chúa Cha bỏ rơi (Mc 15,34).

Đức Giêsu là người giàu lòng thương xót. Trong bài giảng trên núi với tám mối phúc, trong đó Đức Giêsu đã đề cập đến mối phúc: “Phúc thay ai biết xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7). Thế nên, trong cuộc sống thường nhật, Đức Giêsu cũng rộng tay thi thố tình yêu vô bờ của Thiên Chúa cho tha nhân (Mt 9,27; Mt 17,15). Quả thật, điểm nổi bật nơi Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày đó là lòng thương xót, Ngài thường “chạnh lòng thương” dân chúng (Mt 9,36; Mt 14,14; Mt 18,17; Mc 1,41; Mc 6,34; Mc 8,2; Mc 9,22; Mc 20,34; Lc 7,13; Lc 10,33). Với một lẽ dĩ nhiên, lòng thương xót và tình yêu thương con người luôn là nét nổi bật nơi Đức Giêsu, và Ngài thường diễn tả trọn vẹn trong đời sống hằng ngày với mọi người ở mọi thời và mọi nơi (Ga 11,3; Ga 11,5; Ga 11,36; Ga 13,1; Ga 15,15).

Đức Giêsu cũng bị cám dỗ như chúng ta. Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu vào hoang địa ăn chay và cầu nguyện. Sau đó, Ngài bị ma quỷ cám dỗ (Mc 1,13). Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài cũng bị ma quỷ cản bước “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,23). Trên thập giá, Đức Giêsu cũng bị cám dỗ để chứng minh quyền lực của mình, danh dự với lời nói của mình, “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40); “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ítraen! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: "Ta là Con Thiên Chúa!" Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.” (Mt 27,42). Quả nhiên, đó là những cám dỗ khốc liệt với Đức Giêsu, bởi vì họ dựa vào lời Ngài đã nói, và muốn Ngài chứng thực lời nói đó. Nói chung, Đức Giêsu cũng giống như chúng ta là những con người yếu đuối, thường bị thế lực ma quỷ cám dỗ, nhưng Đức Giêsu đã vâng lời Chúa Cha, đã nêu gương cho chúng ta, nên Người đã vượt thoát được mọi cơn cám dỗ, thậm chí Người đã chiến thắng tử thần.

Đức Giêsu đã chịu đau khổ tột cùng. Ngài đã bị dân chúng chống đối khi rao giảng Tin Mừng, các phe thượng tế, kỳ mục, Pharisêu và kinh sư…đã bàn bạc với nhau để tìm kế giết Đức Giêsu (Ga 5,16; Mt 12,14; Mt 26,1-5; Mc 11,18; Ga 11,1). Đỉnh cao của đau khổ mà Đức Giêsu phải chịu đó là cuộc khổ nạn. Đức Giêsu đã chịu nhiều đau khổ trong cuộc khổ nạn bởi bao đòn roi (Mt 26,67-68; Mc 14,65 ), xỉ nhục, khinh chê (Mt 27,37-44; Mc 15,26-32 ) và bị xem là tên bị Thiên Chúa nguyền rủa (Đnl 21,23). Bên cạnh đó, một nỗi đau đớn khác trong tâm can là khi bị chính môn đệ thân tín của mình phản bội (Mt 26,72); dưới chân thập giá, Ngài chẳng thấy môn đệ thân thương nào cận bên. Đau khổ kế tiếp Ngài phải chịu là: “vác thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá” (Ga 19,17-18). Điều bi tráng hơn nữa, là nỗi cô đơn bao phủ lấy tâm hồn Ngài, khi Ngài cảm thấy vắng bóng Chúa Cha, đến nỗi Ngài phải thốt lên: “Êlôi, Êlôi, lama xabácthani! Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? "” (Mc 15,34). Tựu chung, nỗi đau khổ Đức Giêsu chịu là có thật và thật đến mức tận cùng của khổ đau.

Như vậy, ngang qua các trích dẫn Kinh Thánh trên, chúng ta có thể hiểu biết thấu triệt và khẳng định minh nhiên rằng: Đức Giêsu là một con người thật, Ngài đã sống cuộc đời dương thế như chúng ta với những phẩm tính rất người. Vậy Đức Giêsu có là ai khác không? Chúng ta cùng tìm hiểu trong đề mục dưới đây.

II. ĐỨC GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA

Đức Giêsu là một con người thật, vậy tại sao các tín hữu Kitô Giáo lại gọi Ngài là Chúa Giêsu Kitô? Phải chẳng Ngài là Thiên Chúa thật? Chúng ta cùng làm rõ ý niệm này trong các diễn giải tiếp theo.

Đức Giêsu mạc khải Ngài là Con Một của Thiên Chúa Cha. Ngay từ nhỏ, Đức Giêsu đã ý thức được thân phận của mình là thuộc về Chúa Cha khi Ngài nói: “sao cha mẹ lại tìm con, Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49). Lớn lên khi vào đền thờ Giêrusalem, và thấy đền thờ bị xúc phạm Ngài đã xua đuổi mọi kẻ buôn bán trong đó và lớn tiếng rằng: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán." (Ga 2,16). Ngài đã mạc khải cho các môn đệ biết về nhà Cha Ngài, “trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.” (Ga 14,2). Đức Giêsu cũng thường xuyên gọi Thiên Chúa là “Ápba!” (Cha ơi!), đặc biệt trong những lúc Ngài cầu nguyện: “vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha.” (Mt 11,25); “Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: "Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con.” (Ga 11,41). Dĩ nhiên, Đức Giêsu cũng dạy các môn đệ cầu nguyện thân thưa với Chúa Cha rằng: “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:"Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời” (Mt 6,9). Có những lúc, Đức Giêsu khẩn thiêt kêu cầu Cha, đặc biệt là lúc trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Ápba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn”(Mc 14,36). Khi bị những tên lính đóng đinh vào thập giá, đau đớn vô cùng, thay vì buông ra một lời nguyền rủa, trách móc…Đức Giêsu đã khẩn khoản xin Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34). Đến lúc, biết mình sắp lìa bỏ thế gian, để về cùng Cha, Đức Giêsu đã thốt lên: “Lạy Cha! Con phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Nói chung, Đức Giêsu luôn ý thức mình là Con Một Thiên Chúa, và Thiên Chúa đó là Cha, thế nên khi đứng trước thượng hội đồng, nhóm thượng tế, kinh sư liền hỏi Đức Giêsu “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?" Người đáp: "Đúng như các ông nói, chính tôi đây."” (Lc 22,70).

Tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Dân chúng tuyên xứng. Dọc quãng đường rao giảng Tin Mừng, dân chúng chắc hẳn đã nhận định về con người Đức Giêsu. Thế nên, “khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai? Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ." Đức Giêsu lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? " Ông Simôn Phêrô thưa: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16,13-15). Quả nhiên, sau đó Đức Giêsu đã khen Phêrô vì chính Chúa Cha đã mạc khải căn tính của Ngài cho ông. Không chỉ có Phêrô, hai chị em Maria và Mácta cũng đã tin nhận Đức Giêsu là con Thiên Chúa, khi Đức Giêsu hỏi chị có tin Ngài không? Chị đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian." (Ga 11,27). Trong cuộc khổ nạn, trên Núi Sọ, viên đại đội trưởng, người đứng đối diện với Đức Giêsu và trông thấy Ngài trút hơi thở cuối cùng, nên đã nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Ma quỷ tuyên xưng. Không chỉ dân chúng tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, mà ngay cả ma quỷ cũng phải công nhận điều này. Thánh sử Máccô và Luca đã thuật lại: “Một người bị quỷ nhập la lên: Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông?” (Mc 5,6-7, Lc 8,28). Thậm chí, có lúc quỷ còn thử thách Đức Giêsu khi nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!” (Mc 4,3).

Đức Giêsu được gọi là Thiên Chúa. Có một số đoạn Tin Mừng, Đức Giêsu hầu chắc được gọi là Thiên Chúa, ví dụ như: Ga 1,18; Tt 2,13; Rm 9,5; 1Ga 5,20; 2 Pr 1,1. Thánh Gioan Tông Đồ đã xác quyết ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” (Ga 1,1), và “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.” (Ga 1,18). Mặt khác, chúng ta có thể thấy khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với nhóm Mười Một, khi có ông Tôma, Đức Giêsu cho ông xem dấu đinh ở chân tay và cạnh sườn Người, ông đã hoảng hốt tuyên tín: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Trong lần rao giảng đầu tiên, sau khi Đức Giêsu phục sinh, thánh Phêrô đã tuyên bố: “toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô.” (Cv 2,36). Nhờ Thánh Thần thúc đẩy, các tông đồ được mạnh dạn rao giảng, tuyên xưng về Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đến để cứu độ nhân loại, thật vậy, danh xưng "Chúa Giêsu" nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Đức Giêsu là Chúa có nghĩa là tin vào thiên tính của Người, và dĩ nhiên: “Nếu không được Thánh Thần giúp sức, không ai có thể nói: Giêsu là Thiên Chúa." (l Cr 12,3).

Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã sống mầu nhiệm tự hủy. Thánh Phaolô đã diễn tả trong thư Philipphê về sự tự hủy (Kenosis) của Đức Giêsu Kitô: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6-7) . Vậy, phải chăng Chúa Giêsu Kitô đã giấu ẩn thiên tính (thần tính Thiên Chúa) của mình mà mặc lấy nhân tính như con người khi sống ở trần gian này? Đúng vậy, “trong thân phận làm người, Con Thiên Chúa quyết định từ bỏ việc sử dụng đặc quyền và quyền năng của Thiên Chúa, để trong thời gian sống nơi trần thế, Ngài có thể sống trong những giới hạn cần thiết thuộc về sự hữu hạn loài người.”1 Với mầu nhiệm Nhập Thể là mầu nhiệm tự hủy khi Người Con trút bỏ vinh quang thần linh (Pl 2,6), trở nên nghèo hèn, mặc dù Ngài vốn giàu sang (2Cr 8,9) nhưng vấn đến để chia sẻ thân phận làm người của chúng ta với tất cả những gì là bấp bênh và rủi ro của phận người.

III. ĐỨC GIÊSU VỪA LÀ NGƯỜI THẬT VỪA LÀ THIÊN CHÚA THẬT.

Dẫu biết rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, Ngài cao siêu tuyệt hảo trên mọi tạo vật thế nhưng Ngài cũng rất gần gũi với chúng ta là những con người mọn hèn và thậm chí còn gọi chúng ta là bạn (Ga 15,15), bởi lẽ chính Ngài cũng đã làm người như chúng ta.

Chúa Giêsu chia sẻ thân phận làm người với chúng ta. Thiên Chúa thấy con người sa vào tội lỗi và trầm luân ê chề trong cảnh đọa đày, với tình yêu vô bờ bến, Thiên Chúa đã quyết định cứu chuộc con người. Dĩ nhiên, Thiên Chúa có thể phán một lời là cả vũ hoàn mọi thời và mọi nơi được sạch hết muôn vàn tội lỗi, và được cứu rỗi. Thế nhưng, làm như thế chẳng thể nào diễn tả hết tình yêu cao vời của Thiên Chúa, và con người cũng chẳng cảm nếm được gì. Do đó, “tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống”(1 Ga 4,9). Quả thật, để chúng ta được sự sống đời đời, Đức Giêsu đã xuống thế làm người như chúng ta, và “vì con cái thì đều chung một huyết nhục, nên Đức Giêsu đã cùng mang lấy huyết nhục đó” (Dt 2,14). “Gần như suốt đời, Đức Giê-su đã chia sẻ thân phận của đại đa số loài người: một cuộc sống thường nhật, bề ngoài không có gì là vĩ đại, với lao động tay chân; một đời sống tôn giáo Do Thái phục tùng Luật Thiên Chúa (x.Gl 4,4), đời sống trong cộng đồng. Về giai đoạn này, chúng ta được biết rằng Đức Giêsu "vâng phục" cha mẹ và "ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến" (Lc 2, 5l-52).”2

Đức Giêsu chấp nhận những giới hạn của phận người. Một khi đã mang thân phận làm người, Đức Giêsu chấp nhận những giới hạn bởi không gian và thời gian, phong hóa, tri thức nhân loại, bởi vì “Ngôi Lời đã làm người bằng cách đảm nhận một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Kitô cũng bị giới hạn”3. Có đôi khi người ta quá nhấn mạnh đến thần tính của Đức Giêsu với cái giá là nhân tính trọn vẹn của Ngài. Đây là những gì Rahner đã gọi là “lạc thuyết nhất tính tiềm tàng” nơi mà thần tính và nhân tính của Đức Giêsu đã được hợp nhất vào “bản tính” thứ ba, hoặc bản tính nhân loại nơi Đức Giêsu được hòa lẫn vào bản tính thần linh của Ngài giống như một giọt nước trong đại dương.

Đức Giêsu có hai bản tính: Nhân Tính và Thiên Tính. Giáo Hội luôn tuyên tín rằng Đức Giêsu có hai bản tính đó là nhân tính và thiên tính. Hai bản tính này:không lẫn lộn, nhưng hợp nhất trong ngôi vị duy nhất của Con Thiên Chúa4. Về nhân tính, "Đức Giêsu đã đảm nhận không hề tách Người khỏi Chúa Cha. Người là Con của Chúa Cha theo thiên tính, là con của Mẹ Maria theo nhân tính, nhưng là Con của Thiên Chúa theo hai bản tính"5. Vậy, vấn đề được đặt ra, đã mang thân phận làm người với những yếu đuối, dễ dàng sa ngã vào tội lỗi, vậy Đức Giêsu có phạm tôi hay không ?

Câu trả lời là: Đức Giêsu mang thân phận con người, với nhân tính thực thụ Ngài vẫn cảm thấy tức giận trước những sai phạm của con người, nhưng cơn giận của Ngài là cơn giận thánh, vì sự thánh thiện và mưu ích cho con người. Dĩ nhiên, Đức Giêsu vẫn cảm thấy sợ hãi trước cái chết… nhưng Ngài không bỏ cuộc, Ngài bị ma quỷ cám dỗ…nhưng Ngài không hề phạm tội (Dt 4,15). Bởi lẽ, tội mới gây nên sự chết (Rm 5,12), thế nên Chúa Giêsu không phạm tội chỉ vì vâng phục thánh ý Chúa Cha (Mt 26,42), Ngài chấp nhận chết trên thập giá để cứu độ con người ngõ hầu nhờ nhân tính này Ngài đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của "Đấng khơi nguồn sự sống" (Cv 3,15), "Đấng hằng sống" (Kh 1,17; Ga 1,4;5,26). Tựu chung, Đức Giêsu giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, thế nên, sự hoàn hảo trong nhân tính của Đức Giêsu được diễn tả trong việc Ngài không phạm tội (Ga 8,46; 14,30; 2 Cr 5,21; 1 Pr 2,22; Dt 4,15). Công đồng Constantinople II (533) chống lại Theodore (lạc thuyết) của Mopsuestia, người đã khẳng định rằng Đức Kitô chỉ trở nên hoàn hảo sau khi Phục Sinh.
6

Những Lạc Thuyết về Nhân Tính và Thiên Tính của Đức Giêsu Kitô. Trải qua nhiều thế kỷ, thời Giáo Hội sơ khai đã xuất hiện nhiều lạc thuyết thiên lệch ca ngợi về nhân tính hoặc thiên tính của Đức Giêsu cách thái quá hoặc sai lệch tín lý. Cụ thể như sau:

Chối bỏ nhân tính Đức Giêsu. Chúng ta phải kể để các lạc thuyết của nhóm Ngộ đạo, vì phủ nhận nhân tính hơn là chối bỏ thiên tính của Đức Kitô (Ảo thân thuyết). Thật vậy, “ngay từ thời các tông đồ, đức tin Kitô Giáo nhấn mạnh đến việc nhập thể đích thực của Con Thiên Chúa "đến trong xác phàm" (1 Ga 4,2-3; 2 Ga 7). Nhưng từ thế kỷ thứ III, Hội Thánh trong Công Đồng họp tại thành Antiôkia phải khẳng định chống lại Phaolô thành Xamoxatê, rằng : Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa do bản tính chứ không phải do được nhận làm nghĩa tử. Công Đồng chung thứ I, họp tại Nixêa vào năm 325, tuyên xưng trong kinh Tin Kính rằng : Con Thiên Chúa "được sinh ra chớ không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha"; và kết án Ariô là người cho rằng "Con Thiên Chúa đã xuất tự hư không" (x. DS l30 và "có một bản thể khác với Chúa Cha" (DS 126)7. Chưa dừng lại ở đó, vào thế kỷ thứ V, một nhóm lạc thuyết Nhất Tính định tín: trong Đức Kitô, bản tính con người đúng nghĩa không còn tồn tại vì được ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận, nghĩa là Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, đã “đội lốt” người phàm nhằm mượn xác con người để cứu độ con người. Để chống lại lạc thuyết này, “Công Đồng chung thứ IV, họp tại Canxêđônia năm 451, tuyên xưng: "Cùng với các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy và tuyên xưng Một Ngôi Con Duy Nhất, Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, trọn vẹn trong thiên tính và trọn vẹn trong nhân tính, đích thực là Thiên Chúa và đích thực là người, gồm một linh hồn và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha theo thiên tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, "giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi" (Dt 4,l5), được Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời theo thiên tính, và trong thời sau hết này, vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, theo nhân tính.”8 Vào thế kỷ thứ VI, sau Công Đồng Canxêđônia một số người biến nhân tính của Đức Kitô thành một chủ thể hữu ngã. Công Đồng chung thứ V, họp tại Contantinopôli năm 553, tuyên xưng chống lại họ: "Chỉ có một ngôi hiệp (hay ngôi vị) duy nhất, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Một trong Ba Ngôi" (x.DS 424). Như vậy, tất cả những gì thuộc nhân tính của Đức Kitô, không chỉ các phép lạ, nhưng cả những đau khổ và cái chết (x.DS 424 ) đều thuộc về Ngôi Vị Thiên Chúa của Người như chủ thể riêng của chúng9: "Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng bị đóng đinh vào thập giá nơi thân xác, là Thiên Chúa thật, là Đức Chúa vinh quang và là một trong Ba Ngôi chí thánh" (DS 432)10.

Chối bỏ thiên tính Đức Giêsu. Có nhiều lạc thuyết cho rằng Đức Giêsu là một con người thuần túy, được kết hợp với ngôi vị thần linh nên mới là Thiên Chúa, đó chính là lạc thuyết Néttôriô. Để chống lại lạc thuyết này, “Thánh Xyrilô thành Alêxanria và Công Đồng chung thứ III họp tại Êphêsô năm 43l đã tuyên xưng : "Ngôi Lời đã làm người khi kết hợp trong ngôi vị mình một thân xác do một linh hồn làm cho sống động" (x. DS 25O). Nhân tính của Đức Kitô không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng từ lúc tượng thai đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình. Về vấn đề này, Công Đồng chung Êphêsô năm 43l công bố rằng: Đức Maria thực sự trở thành Mẹ Thiên Chúa qua việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ. "Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, không phải vì Ngôi Lời đã nhận thiên tính của Người từ nơi Mẹ, nhưng vì chính từ Mẹ mà Người đã nhận được một thân xác thánh thiêng có linh hồn; Ngôi Lời đã liên kết với thân xác ấy ngay trong ngôi vị của mình, vì thế chúng ta nói : "Ngôi Lời đã sinh ra làm người " (DS 25l)”11. “Trong cùng một Đức Kitô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất" (DS 30l-302). Thánh Phaolô đã kết luận về Đức Giêsu như sau: "tất cả sự viên mãn của thiên tính hiện diện cách cụ thể nơi Người" (Cl 2,9).

Như thế, Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, nhưng vẫn luôn là Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Phụng vụ Rôma ca mừng : "Trước sau Người vẫn là Thiên Chúa nhưng Người đã nhận lấy thân phận thế nhân"
12. Bản phụng vụ theo thánh Gioan Kim Khẩu hân hoan công bố: "Ôi lạy Con Một duy nhất và là Ngôi Lời Thiên Chúa, vốn là bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Ngài đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Maria, mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh. Ngài vẫn là Thiên Chúa nhưng đã làm người và đã chịu đóng đinh vào thập giá, ôi lạy Đức Kitô Thiên Chúa, Ngài đã dùng cái chết của mình mà đập tan sự chết, Ngài là một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con" ( Đoản khúc "Ôi Lạy Con Một Thiên Chúa ")13.

Chúa Giêsu đã làm người để con người được vươn lên cùng Thiên Chúa. Khi nói về nhân tính của Đức Giêsu chúng ta phải thừa nhận rằng: Nhân tính Đức Giêsu là một yếu tố thiết yếu trong việc liên tục hình thành nên người Kitô hữu qua đời sống của họ. Vì nếu Chúa Giêsu không làm người thì con người không thể vươn lên cùng Thiên Chúa, ngược lại, chính Chúa Giêsu đã làm người, sống thân phận như chúng ta, ngõ hầu chúng ta có thể nhờ Ngài mà vươn lên cùng Thiên Chúa, bởi vì chính Ngài là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. (Ga 14,6).

Các thánh giáo phụ đã nói về việc con người thông dự vào thiên tính của Thiên Chúa ngang Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể như sau: Ngôi Lời đã làm người để chúng ta được
"thông phần bản tính Thiên Chúa" (2 Pr l,4); "Ngôi Lời làm người, Con Thiên Chúa làm con loài người: chính là để cho con người, khi kết hợp với Ngôi Lời và lãnh nhận từ hệ thần linh, được trở nên con cái Thiên Chúa"14; "Vì Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa"15; "Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được thông phần thiên tính của Người, nên đã mang lấy bản tính chúng ta, để vì đã làm người, Người biến chúng ta thành thần thánh"16.

Tựu chung, Hội thánh đã phải bảo vệ và minh giải chân lý đức tin: “
Đức Giêsu làm người những vẫn là Thiên Chúa” suốt những thế kỷ đầu tiên để chống lại các lạc thuyết. Hiển nhiên: “Con Thiên Chúa nhập thể, là biến cố độc nhất vô nhị, sự kiện nầy không có nghĩa là Đức Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của sự pha trộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người thật sự đã làm người mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật17.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là: liệu rằng sau khi phục sinh, nhân tính của Đức Giêsu Kitô sẽ như thể nào? Vì khi còn sống ở trần gian với nhân tính Ngài phụ thuộc không gian và thời gian, phong hóa, tri thức nhân loại, nên khi sau khi phục sinh, Ngài còn bị giới hạn hay không? Chúng ta cùng làm rõ trong phần dưới đây.

Trạng thái nhân tính của Đức Giêsu Phục Sinh18. Đức Giêsu phục sinh có những tương quan trực tiếp với các môn đệ của Ngài, qua tiếp xúc (Lc 24,39; Ga 20,27) và việc chia sẻ bữa ăn (Lc 24,30.41- 43; Ga 21,9.13-15). Nhờ đó, Ngài muốn cho họ thấy Ngài không phải là ma (Lc 24,39), và thân xác phục sinh của Ngài chính là thân xác đã bị hành hạ và đóng đinh thập giá, vì còn mang dấu vết cuộc khổ nạn (Lc 24,40; Ga 20,20,27). Tuy nhiên, thân xác đúng nghĩa và có thật này có các đặc tính mới của một thân xác vinh hiển: Ngài không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian nữa, nhưng có thể đi đâu và lúc nào tùy ý, vì nhân tính của Ngài không còn bị giam giữ trên trần thế mà chỉ thuộc về thế giới thần linh của Chúa Cha (Ga 20,17). Do đó, Đức Giêsu phục sinh hoàn toàn tự do để hiện ra như Ngài muốn: dưới hình dáng một người làm vườn (Ga 20,14-15) hoặc "dưới hình dạng khác" (Mc 16,12) hơn những hình dạng quen thuộc với các môn đệ, nhằm khơi dậy đức tin của họ (x. Ga 20,14.16; 21,4.7).

Sự hội nhất nhân tính của Đức Giêsu trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Vấn đề đặt ra tiếp theo là: khi về với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu hợp nhất như thế nào trong mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, đang khi phần nhân tính của Ngài vẫn còn? Chúng ta có thể hiểu như sau19: Sự Phục Sinh của Đức Giêsu là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trong lịch sử. Trong cuộc Phục Sinh này, cả Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng chung hoạt động, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mình. Phục Sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng "đã làm cho Đức Kitô Con của Người sống lại" (Cv 2,24); nhờ đó, Chúa Cha đưa trọn nhân tính - cùng với thân xác - của Đức Kitô vào mầu nhiệm Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Đức Giêsu được mặc khải chung cuộc là "Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng theo Thánh Thần do việc Người từ cõi chết sống lại" (Rm 1,3-4). Thánh Phaolô nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng (Rm 6,4; 2Cr 13,4; Pl 3,10; Ep 1,19-22; Dt 7,16) qua công trình của Thánh Thần làm cho nhân tính đã chết của Đức Giêsu được sống lại và nâng lên tình trạng vinh hiển.

Vậy, những lần hiện ra sau này của Đức Giêsu với các môn đệ thì đó là nhân tính hay thiên tính hay cả hai? Lần hiện ra cuối cùng được kết thúc bằng việc nhân tính của Ngài đi vào vinh quang Thiên Chúa một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây (Cv 1,9; Lc 9,34-35; Xh 13,22) và cõi trời (Lc 24,51) nơi từ nay Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa (Mc 16,19; Cv 2,33; 7,36; Tv 110,1). Hoàn toàn ngoại lệ và độc nhất, chỉ một lần, Ngài tỏ mình ra cho thánh Phaolô "chẳng khác nào cho một đứa trẻ sinh non" (1Cr15,8) trong lần cuối cùng này, Ngài đặt ông làm tông đồ (1Cr 9,1; Ga 1,16). Cách chung, một khi Đức Kitô lên trời nghĩa là nhân tính của Người vĩnh viễn đi vào thượng giới của Thiên Chúa. Từ nơi đó, Người sẽ trở lại (Cv 1,11). Giữa Thăng Thiên và Tái Lâm, loài người không trông thấy Người được (Cl 3,3).

Tóm lại, trong công trình cứu chuộc mầu nhiệm của Ba Ngôi Chí Thánh, Đức Giêsu Kitô được Phục Sinh nhờ Chúa Cha, Đấng đã đưa trọn nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu vào mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần từ ngàn xưa đến mãi muôn đời. Thế nên, “sự Phục Sinh vừa là một biến cố lịch sử đươc các môn đệ chứng thực vì họ đã thực sự gặp Đấng Phục Sinh, vừa là biến cố siêu việt vì nhân tính của Đức Kitô đi vào trong vinh quang Thiên Chúa.”
20

KẾT LUẬN

Trong cuộc sống thường nhật, người ta nhận thấy Đức Giêsu là người Nadarét ở Galilê, Ngài là Đấng chữa lành và là người làm những phép lạ. “Ngài là Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay con người, suy nghĩ bằng trí óc con người, hành động theo một ý chí con người, yêu mến bằng quả tim con người. Sinh làm con Đức Trinh nữ Maria, Ngài đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi”21. Ngài đã bị kết án, bị đau khổ, bị sỉ nhục và bị đóng đinh. Ngài đã chết và đã được nâng dậy từ cõi chết bởi Chúa Cha. Con Người này được các Kitô hữu coi như là một vị ngôn sứ, Con Thiên Chúa, Đức Chúa và Đấng Kitô. Thế nên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Đức Giêsu người là điểm khởi cho đức tin của các Kitô hữu trong thế kỷ đầu tiên. Thật vậy, theo đạo là theo một con đường, con đường Đức Giêsu (Ga 16,4), sống đạo là sống một cuộc đời như Đức Giêsu. Ngài mời gọi mọi người ở mọi thời và mọi nơi hãy tin yêu vào Ngài, đặt Ngài là nền tảng và cùng đích của đời sống con người, chắc chắn họ sẽ được hưởng sự sống đời đời (Ga 6,47).

Một khi Đức Giêsu trở thành "Kitô" trọn vẹn trong nhân tính đã toàn thắng sự chết (Cv.2,36), Ngài ban đầy tràn Thánh Thần cho các thánh "để nhờ kết hợp với nhân tính của Ngài, họ trở thành "Con người hoàn hảo..., đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô" (Ep.4,13), thành "Đức Kitô toàn diện" theo cách nói của Thánh Augustinô.

Tất cả chúng ta đã lãnh nhận cùng một Thần Khí duy nhất là Chúa Thánh Thần, chúng ta hiệp nhất với nhau và với Thiên Chúa. Vì chúng ta tuy nhiều người, nhưng Đức Kitô đã cho Thánh Thần của Chúa Cha và của Ngài cư ngụ trong mỗi người chúng ta. Thần Khí duy nhất và không thể phân chia này, quy tụ lại trong Ngài những con người riêng rẽ và làm cho mọi người nên một trong Ngài. Cũng như quyền năng của nhân tính Đức Ki-tô làm cho những ai chia sẽ nhân tính đó hợp thành một thân thể duy nhất. Thánh Syrilô Giám mục Alexanri cho rằng: Chúa Thánh Thần duy nhất và không thể phân chia, Đấng ngự trong mọi người, cũng đưa mọi người đến sự hiệp nhất thiêng liêng.
22

Khi tìm hiểu sâu kỹ về môn Kitô học này, đó là một trong những cơ hội để chúng ta có thể hiểu biết hơn về Đức Giêsu Kitô cách trọn vẹn, nghĩa là hiểu tận căn về Ngài cả nhân tính lẫn thiên tính và sự hội nhất nhiệm màu sâu thẳm đó. Ngõ hầu, ngang qua sự hiểu biết về tri thức và nội tâm này, chúng ta có thể yêu mến Ngài hơn và theo Ngài sát bước hơn (Linh Thao 104), bởi vì Ngài đã sống cuộc đời như chúng ta mọi đàng (ngoại trừ tội lỗi), nên chúng ta có thể ngước nhìn lên Ngài, nhờ Ngài với Ngài và trong Ngài mà chúng ta được vươn lên cùng Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hằng khao khát ước mong.


Minh Đức

Nguồn tham khảo:
1 Taylor, Vincent, The Person of Christ in New Testament Teaching (London: Macmillan, 1958) 287. thuộc về sự hữu

hạn loài người.” 278

2 Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 531.
3 x. Công Đồng Latran 649. DS. 504.

4 Ibid, số 481.

5 x. Công Đồng. Fri-un năm 796: DS 619.

6 Neuner, J. and J. Dupuis, The Christian Faith (NY: Alba House, 1998) 211.

7 Ibid, số 465.
8 Ibid, số 467.

9 x.Công Đồng Êphêsô: (DS 255).

10 Ibid, số 468.

11 Ibid, số 466.

12 x.Điệp ca kinh sáng ngày1-1; T. Lê-ô Cả, bài giảng 2l, 2-3.

13 Ibid, số 469.

14

Thánh Irênê, chống lạc giáo 3,19,1.

15

Thánh Atanasiô, Nhập Thể 54,3.

16 Thánh Tôma Aquinô, Tiểu phẩm 57 về ngày lễ Thánh Thể 1.

17 Ibid, số 464.

18 Ibid, số 645.

19 Ibid, số 648.

20 Ibid, số 656.

21 GS 22,2.
22 Thánh Syrilô Giám mục Alexanri, Jo 12.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

BÀI HỌC TỪ BỆNH VIỆN

 “Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày.” Câu nói của Helen Keller một lần nữa khiến tôi giật mình khi bước vào bệnh viện hôm nay. Nơi đây lại giống như một ngôi trường đặc biệt, dạy ta những bài học rất quý về cuộc đời:



- Tiền nhiều có thể mua thuốc men, phòng bệnh và những dịch vụ tốt hơn, nhưng không mua được sự sống. Có thể mua máu, nhưng không mua được một trái tim khỏe mạnh. Có thể chi trả cho hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, nhưng không thể ra lệnh cho tế bào ung thư ngừng phát triển. Có thể mua một chiếc giường tốt, nhưng không mua được một giấc ngủ bình an; có thể thuê người chăm sóc, nhưng không mua được tình yêu chân thành của một người ở bên khi ta yếu đuối nhất.

- Danh vọng, chức vụ, bằng cấp, tài năng hay sắc đẹp có thể làm ta được ngưỡng mộ ngoài xã hội, nhưng trước bệnh tật, tất cả đều trở nên nhỏ bé. Người giàu hay nghèo, nổi tiếng hay bình thường, cuối cùng cũng chỉ là một con người mong manh, cùng cần một hơi thở, một nhịp tim và một chút sức khỏe.

- Bệnh viện cũng dạy ta biết trân trọng những điều rất bình thường. Có người chỉ mong đủ khỏe để được đi làm, đi học, nấu một bữa cơm, rửa chén, leo vài bậc cầu thang hay tự mình bước xuống khỏi giường để đi vệ sinh. Có người chỉ ước được ăn một bữa cơm bình thường mà không phải kiêng khem.

- Ta từng khó chịu khi cha mẹ gọi điện nhiều lần, nhưng có người chỉ mong còn cha mẹ để gọi. Ta từng thấy vợ chồng, bạn bè đôi khi thật phiền phức, nhưng khi đau yếu mới hiểu có một người đến thăm, quý giá biết bao.

- Ta thường nghĩ mình còn rất nhiều thời gian, nhưng bệnh viện nhắc ta rằng không ai biết mình còn bao nhiêu ngày sống. Ta từng quá bận tâm người khác nghĩ gì, chạy theo thành công và phù phiếm, nhưng rồi nhận ra: nếu có tất cả mà không có sức khỏe và bình an, liệu ta có thật sự hạnh phúc?

Bệnh viện không chỉ là nơi chữa bệnh cho thân xác, đôi khi đó còn là nơi chữa căn bệnh vô ơn của tâm hồn.

Tạ ơn Chúa vì tất cả!

 M. Đức 

28.8.2026

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Kinh Dịch nói gì về tình trạng hiện nay

 Kinh Dịch nói gì về tình trạng hiện nay:




Ngày 30/5/2026 quẻ số 63 – Ký Tế (既濟, Jì Jì, “Đã hoàn thành” hay “Sau khi hoàn tất”). Nghĩa là: Đừng tưởng việc lớn đã xong là kết thúc, nhưng không phải vậy, quẻ này cảnh báo rằng “At the beginning good fortune. At the end disorder. Ban đầu khởi sự tốt, nhưng kết thúc dễ rối loạn.” Đây cũng là điều mà thánh Phaolo từng cảnh báo “Anh em hãy cẩn thận khi khởi đầu bằng Thần Khí và kết thúc bằng xác thịt” (Galat 3,3).

Con người thường: chủ quan, tự mãn, ngừng học hỏi, mất cảnh giác và chính lúc ấy: sự suy thoái bắt đầu. Ma quỷ thường cám dỗ và đánh gục khi ta tự mãn, tự đắc, tự hào, tự kiêu, tự do dựa vào sức riêng mình mà xem thường ơn Chúa. Đây là khởi đầu của vấp ngã và thất bại.

Quẻ Ký Tế này gồm: Thượng quái: Khảm (☵ – Nước); Hạ quái: Ly (☲ – Lửa). Hình dung như lửa ở dưới nấu nồi nước bên trên. Nhưng nếu mất cân bằng khi: lửa quá lớn gây cạn nước; hoặc lửa quá nhỏ khiến nước chẳng thể sôi. Quân bình âm dương là điều rất cần trong gia đoạn này.

Đồng thời, quẻ Ký Tế cũng nhắc nhở rằng: Cuộc đời không có điểm kết thúc tuyệt đối. Mỗi sự hoàn thành lại mở ra một hành trình mới. Chẳng hạn chịu chức linh mục xong không phải hoàn thành một mục tiêu, nhưng là khởi đầu một sứ vụ mới.

Đây chính là tinh thần của Kinh Dịch: không có thành công nào cho phép con người ngừng trưởng thành. Cuộc sống là một dòng sông vận hành liên tục và như Heraclitus nói “không ai tắm 2 lần trên một dòng sông” cũng rất chí lý.

Sau hơn 2 tháng, ngày 14/8/2026 bốc quẻ Vị Tế. Kinh Dịch cho ra một quẻ thật lạ lùng khi nó cạnh sát quẻ Ký Tế (số 63). Đây là một quẻ rất đặc biệt, và càng đặc biệt hơn vì cả 6 hào đều là hào động. Quẻ này liên quan đến thời chuyển. Vị tế (未濟) không hẳn là thất bại mà là thời đang chuyển.

Nhưng quẻ Vị Tế ngược với quẻ Ký Tế: lửa ở trên và nước ở dưới ( Thượng quái: Ly ☲ – Lửa; Hạ quái: Khảm ☵ – Nước). Điều này nói lên có gì đó chưa được hòa hợp và cân bằng nội tại.

Hơn nữa, hình ảnh “Con cáo nhỏ gần vượt qua sông, nhưng làm ướt đuôi” là đặc trưng của quẻ Vị Tế. Hãy tưởng tượng một con cáo đang bơi qua sông, nó đã gần tới bờ và chỉ còn một chút nữa thôi là an toàn lên bờ. Nhưng vì nghĩ rằng mình sắp thành công nên có thể mất tập trung dẫn đến cái đuôi của nó bị ướt.→ Đây là một bài học cực kỳ sâu: Càng gần thành công, càng phải tỉnh thức. Nhiều thất bại không xảy ra lúc bắt đầu. Chúng xảy ra ngay trước khi hoàn thành.

Tóm lại, cả 2 quẻ trên Ký Tế (63) và Vị Tế (64) đều có 6 hào động nên chứng tỏ thời đang dịch chuyển và dục tốc bất đạt, tảo cấp tắc bại sự. Hãy kiên nhẫn chờ đợi khó khăn nhưng đừng bỏ cuộc sớm. Hãy nhìn kỹ từng hào sẽ thấy rõ: 

1. Hào 1 - Bắt đầu khi con cáo mới xuống nước. Đừng vội vì khi ta chưa biết hết hoàn cảnh thì chưa nên hành động quá sớm. Hãy chuẩn bị chờ thời.

2. Hào 2 – Biết giữ mình: Hào này nói về việc kéo bánh xe lại, giữ cho xe không lao quá nhanh. Có lúc tiến chậm lại chính là cách để tiến xa hơn.

3. Hào 3 – Chưa qua được: Đây là giai đoạn nguy hiểm. Muốn tiến quá nhanh có thể gặp bất lợi. Biết mình chưa đủ điều kiện thì đừng cố ép thời gian.

4. Hào 4 – Bắt đầu chuyển mình: Đây là lúc nỗ lực thật sự được triển khai. Nhưng vẫn cần kiên trì và không bỏ cuộc giữa chừng.

5. Hào 5 – Ánh sáng: Đây là hào rất đẹp khi người quân tử có ánh sáng của mình, có lòng thành. Không phải bằng quyền lực mà bằng đức và sự chân thành. Khi đã tìm được hướng đúng, hãy sống bằng nội lực và sự chân thành.

6. Hào 6 – Cẩn thận ở điểm cuối: Đây mới là điều cực kỳ đáng chú ý. Ngay khi tưởng rằng: “Xong rồi!”thì lại có nguy cơ “ướt đầu”. Nghĩa là: Đừng đánh mất sự tỉnh thức ngay trước đích.

Tóm lại: “trong âm luôn có dương và trong dương luôn có âm” hay “trong họa có thể tiềm ẩn phúc và trong phúc có thể ẩn chứa họa” chuyện “tái ông thất mã” là một bài học. Đồng thời, Kinh Dịch dạy ta 2 quẻ Ký Tế và Vị Tế trên là: đừng vội vàng, hấp tấp quyết định hay tự mãn trước thánh công gần tới, nhưng hãy nhận ra thời của mình mà hành động cho đúng đắn, khiêm tốn và tỉnh thức. Đây cũng những điều mà chính Chúa Giêsu cũng dạy ta “hãy học ở Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường… hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn kẻo sa trước cám dỗ” (Mt 26,41) và lời Đức Giêsu: “Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 24,13)


M. Đức 

(Một suy tư và bài học nhỏ từ Kinh Dịch)

Trong Luận Ngữ, chương 7, có câu: 子曰:「加我數年,五十以學易,可以無大過矣。”Nếu cho ta thêm vài năm nữa, đến năm mươi tuổi mà học Dịch, ta có thể không mắc sai lầm lớn".

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

TÌM Ý CHÚA TRONG ĐỜI

 TÌM Ý CHÚA TRONG ĐỜI

Ít nhất một lần trong đời có thể ta đã tự hỏi rằng: “không biết Chúa muốn điều gì trên cuộc đời con? Giữa những chọn lựa, đâu thực sự là Ý Chúa? Chúa muốn con đi tu hay lập gia đình? Chúa muốn con tu triều hay tu dòng? Nếu tu dòng thì là dòng nào? Hay nếu con lập gia đình thì đâu là người bạn đời mà Chúa dành cho con? Hoặc con sẽ sống ở nơi nào? Đâu là nghề nghiệp mà Chúa muốn con thực hiện?”

Thực ra, có đôi khi ta quan niệm Ý Chúa như việc sáng mua vé số, chiều sẽ có kết quả xổ sổ ngay; hay Ý Chúa như việc bốc thăm trúng thưởng, nghĩa là trong số các khả thể tốt nhất ở trong chiếc hộp giấy kia, nếu ta may mắn thì sẽ tìm được cái tốt nhất. Thế nên, ta phải dùng mọi khả năng, tài khéo, trực giác để lựa chọn cho mình một khả thể tốt đẹp nhất, đúng đắn nhất và xem đó là Ý Chúa. Thậm chí, một số người khá lạc quan khi nghĩ rằng: Ý Chúa quan phòng trên cuộc đời ta tựa như một bản Google Maps, dù ta có thể đi con đường khác với gợi ý ban đầu nhưng bản đồ sẽ tự động cập nhật con đường mới, miễn là sẽ đưa ta đến tới cùng đích của mình… 

Thế nhưng, nếu suy nghĩ và tìm kiếm Ý Chúa cho cuộc đời mình như các quan niệm trên, có lẽ ta sẽ sống vừa trong sự hồ hời, háo hức, hồi hộp, nhưng cũng vừa lo lắng, lơm lớp, lấp lửng… bởi vì ta sợ rằng sau một thời gian “lựa” thì có thể sẽ “chọn” phải cái không đúng, điều vốn dĩ khiến cuộc đời ta không có bình an và hạnh phúc thực sự vì đã làm hỏng kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc đời mình. 

Áp lực và lo lắng suy nghĩ như thế theo kiểu tâm lý tự nhiên và phán đoán lý tính thuần túy của con người thì cũng dễ hiểu thôi! Thế nhưng, dường như ta đang “gò ép” Thiên Chúa vào một lối suy nghĩ “khuôn khổ” và hành động theo kiểu của con người, nghĩa là Ý Chúa trên cuộc đời ta có thể theo kiểu nhị nguyên biện chứng: đúng-sai; hên-xui; may-rủi; được-mất; thành-bại; vinh-nhục; hạnh phúc-đau khổ… Và dường như Thiên Chúa đã có một kịch bản tiền định sẵn cho ta từ thuở ngàn xưa.

Thiết tưởng cũng cần nhắc đến ý niệm tiền định của Thiên Chúa và ý chí tự do của con người. Thực ra, món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa ban cho con người là một “ý chí tự do”, điều mà không phải mọi thụ tạo, sinh vật nào cũng có thể thủ đắc. Thế nhưng, theo như thánh Tôma Aquinô giải thích thì: ý chí tự do không phải muốn làm gì thì làm, mà là khả năng làm điều thiện một cách có ý thức và trách nhiệm.

Bên cạnh đó, ý niệm “tiền định” không có nghĩa là mọi sự được lập trình sẵn, theo kiểu một bộ phim đã có kịch bản và ta là những diễn viên buộc phải theo kịch bản đó. Thực tế, Thiên Chúa biết đích đến và chuẩn bị mọi phương thế để con người đạt tới cùng đích ấy, nhưng Ngài không cưỡng ép con người phải đi theo con đường đó. Sở dĩ điều làm Thiên Chúa trở nên siêu việt, tuyệt vời và vĩ đại mãi mãi, đó là Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài ngang qua chính sự tự do của con người. Dù rằng, tự do của con người là có thật, nhưng sự khôn ngoan của Thiên Chúa con lớn hơn nhiều!

Vậy làm thế nào để nhận ra Ý Chúa cho cuộc đời mình? Theo linh đạo của thánh I-nhã, Ý Chúa là một tiến trình phân định thiêng liêng và mọi lựa chọn được đưa ra với sự bình tâm. Bình tâm ở đây được hiểu là mọi chọn lựa đều mang ý chí tự do và hướng đến Thiên Chúa, nghĩa là cho Vinh Danh Chúa hơn. Nói một cách dễ hiểu: bình tâm là đặt Chúa lên trên hết (Linh Thao số 23). Dấu chỉ xác chuẩn của một lựa chọn đúng theo Ý Chúa đó là sự bình an đích thực, niềm an ủi thiêng liên kéo dài và hạnh phúc sâu lắng, điều mà chính Chúa Giêsu nói trong Kinh Thánh “không theo kiểu thế gian ban tặng” (Ga 14,27).

Vậy, có người đặt ra vấn đề là: một người đi tu và đã khấn trọn một thời gian và xem đó là Ý Chúa, nhưng hôm nay họ rời dòng để sống một bậc sống khác, chẳng hạn ơn gọi hôn nhân. Vậy phải chăng lựa chọn thứ hai cũng là Ý Chúa quan phong hay chỉ là ý riêng của họ?

Nếu hiểu Ý Chúa không phải là một "kịch bản định sẵn" mà con người chỉ việc tìm cho đúng, nhưng là một huyền nhiệm được Thiên Chúa hiện thực hóa qua chính tự do của con người, thì những tháng năm sống đời tu không phải là một sai lầm cần phủ nhận khi hôm nay họ bước vào đời sống hôn nhân. Trong quãng thời gian ấy, họ đã chân thành cầu nguyện, phân định, quảng đại đáp lại tiếng gọi mà mình nhận ra lúc bấy giờ. 

Thiên Chúa đã hiện diện, hướng dẫn và ban ân sủng cho từng bước đi ấy. Vì thế, những tháng năm trong đời tu không phải là một "đoạn đường lạc hướng", nhưng là một phần thật sự của hành trình Thiên Chúa đã cùng họ viết nên. Nếu hôm nay, sau một tiến trình phân định nghiêm túc, họ nhận ra mình được mời gọi sống ơn gọi hôn nhân, thì điều đó không có nghĩa Thiên Chúa đã đổi ý, nhưng chính hành trình cuộc đời họ đang tiếp tục được Ngài dẫn dắt trong một giai đoạn mới.

Điều thay đổi không phải là tình yêu hay kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng là cách kế hoạch ấy được triển nở trong dòng chảy của lịch sử đời họ. Thiên Chúa không yêu họ hơn khi họ mặc tu phục, cũng không yêu họ ít đi khi bản thân họ khoác lên mình vai trò của một người chồng, người cha, hay người vợ, người mẹ. Điều Ngài luôn mong muốn là họ sống trọn vẹn ơn gọi nên thánh trong bậc sống mà hôm nay, với lương tâm ngay thẳng và sự bình tâm thiêng liêng, họ nhận ra là con đường mình phải bước đi dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. 

Vì thế, không nên đặt hai giai đoạn ấy trong thế đối lập: một bên là Ý Chúa, còn bên kia chỉ là ý riêng của đương sự. Đúng hơn, cả hai đều có thể là những chặng đường khác nhau trong cùng một kế hoạch yêu thương, nơi Thiên Chúa luôn đồng hành và hoạt động qua chính tự do của con người.

Chuyện kể rằng: có một Đức Giám Mục đến một hội dòng kia để dâng thánh lễ khấn cho các nữ tu. Sau thánh lễ, Đức Giám Mục cùng quý soeur trong ban cố vấn đi tham quan một vòng trong khuôn viên nhà Dòng. Khi đến khu vực nhà bếp, nơi có quý soeur đang chuẩn bị sắp dọn bữa ăn, Đức Cha tiến vào trong bếp và hỏi một nữ tu rằng: “Soeur đang làm gì đấy?”, nữ tu mỉm cười đáp lại rằng: “Dạ! công việc của con đang làm thì cũng giống việc Đức Cha đang thực hiện đó ạ!” Đang khi Đức Cha sửng sốt và ngạc nhiên trước câu trả lời đó, thì vị nữ tu liền giải thích rằng: “Công việc của Đức Cha, cũng như công việc của con ở đây và ngay lúc này đó là đang thi hành Ý Chúa!” Đức Cha chợt gật đầu mỉm cười và giơ tay chúc lành cho vị nữ tu hồn nhiên, vui tươi và hóm hỉnh đó. Nói theo ý của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận thì “Ý Chúa trong phút hiện tại là việc bổn phận của con.”

Vì thế, thay vì đặt câu hỏi: "Giữa muôn vàn khả thể lựa chọn, lỡ tôi chọn sai thì hỏng luôn kế hoạch Chúa dành cho mình thì sao?” thì ta hãy hiểu rằng, Thiên Chúa không muốn ta phải trở thành: bác sĩ hay linh mục; sống ở Pháp hay Việt Nam, cưới người A hay người B… Nhưng điều Ngài muốn trước tiên là: tôi cần nên thánh; biết yêu thương; sống trong chân lý; đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi vì, có nhiều con đường cụ thể khác nhau có thể dẫn tới cùng mục tiêu ấy.

Dĩ nhiên, Thiên Chúa còn có thể biến cả những lựa chọn sai thành cơ hội cứu độ. Đây là một điều an ủi rất lớn cho những người theo Chúa. Phêrô từng phạm tội phản bội và chối bỏ Chúa Giêsu, người Thầy yêu dấu của mình, nhưng Phêrô đã vấp ngã và đứng lên hoán cải, làm lại cuộc đời và trở thành vị thánh tông đồ trụ cột trong Giáo Hội. Phaolô cũng miệt mài bách hại các Kitô hữu sơ khai, nhưng một khi biết mình đã sai, thánh nhân đã trở lại cùng Chúa và trở nên vị thánh tông đồ nhiệt thành cho dân ngoại. Hay như một ví dụ nổi bật là Giuse trong Cựu Ước. Khi Giuse bị các anh bán sang Ai Cập là một hành vi xấu của con người, nhưng cuối cùng chính biến cố đó lại trở thành phương thế để cứu cả gia đình khỏi nạn đói. Giuse nói với các anh mình: "Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho điều đó trở nên điều lành." Điều đó không có nghĩa Thiên Chúa muốn sự dữ xảy ra, nhưng Ngài có quyền năng biến cả hậu quả của sự dữ thành cơ hội cho điều thiện lớn hơn.

Tóm lại, Thiên Chúa có một kế hoạch yêu thương cho mỗi người chúng ta. Dù rằng Thiên Chúa biết trước mọi lựa chọn của chúng ta có thể chưa hoàn hảo, nhưng Ngài không cưỡng ép sự tự do của chúng ta. Ân sủng của Thiên Chúa không hủy bỏ tự do mà chữa lành, nâng đỡ và hoàn thiện tự do, ngay cả trong những chọn lựa sai lầm, nếu con người hoán cải thì Thiên Chúa vẫn có thể đưa ta trở về với kế hoạch cứu độ. “Nguyện xin Chúa giúp con bắt đầu và lại bắt đầu, dù khi thất bại, dù khi mỏi mệt, chán chường, dù khi lỗi tội, dù khi phản bội... Xin Chúa giữ gìn con”.

Bạn Đường Đức Giêsu

11.07.2026 Lễ Thánh Biển Đức

""Listen carefully, my son, to the master's instructions, and attend to them with the ear of your heart." "Hỡi con, hãy chăm chú lắng nghe những lời chỉ dạy của bậc thầy và hãy đón nhận chúng bằng đôi tai của trái tim con." (Lời mở đầu Tu Luật của Thánh Biển Đức)