Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2025

Lòng nhân ái như mẫu số chung của các truyền thống tôn giáo ở Việt Nam

 Lòng nhân ái như mẫu số chung của các truyền thống tôn giáo ở Việt Nam



Sống trong một thế giới đầy biến động, nơi mà khác biệt tôn giáo, văn hoá và niềm tin có thể vừa là nguồn phong phú tinh thần, vừa là nguyên nhân của chia rẽ. Trước thực tại ấy, một câu hỏi lớn được đặt ra là: Phải chăng có một “ngôn ngữ chung” giúp các tôn giáo có thể gặp gỡ và cộng tác với nhau vì lợi ích con người? Câu trả lời có thể được đặt ra là “lòng nhân ái”. Thật vậy, chỉ có lòng nhân ái, tình thương yêu con người vô điều kiện, là mẫu số chung, là hệ quy chiếu, là chiếc cầu nối giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh đa tôn giáo của Việt Nam.

Trước hết, thiết tưởng cần thừa nhận rằng: Việt Nam là quốc gia, nơi có một không gian giao thoa tôn giáo và tinh thần bao dung từ lâu đời. Cụ thể, đã từ hàng trăm ngàn năm nay, Việt Nam là mảnh đất nơi nhiều tôn giáo cùng tồn tại hòa bình: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài,... Trong dòng chảy lịch sử, dù có những khác biệt trong giáo lý và nghi lễ, các tôn giáo ở Việt Nam vẫn chia sẻ một nền đạo lý chung: yêu thương con người, hướng thiện, và sống nhân ái. Chính học giả Trần Văn Giàu từng viết: “Đạo đức truyền thống Việt Nam có cốt lõi là lòng nhân ái – thương người như thể thương thân” .Dường như, tinh thần ấy thấm đẫm vào mọi tôn giáo du nhập và bản địa hóa, trở thành chất keo liên kết giữa các niềm tin khác nhau, làm nên bản chất và nét đặc sắc của con người Việt Nam. Có rất nhiều tôn giáo ở Việt Nam, nhưng vì phạm vi bài viết có giới hạn, nên chỉ dừng lại phân tích ở Tam Giáo đó là: Nho Giáo, Phật Giáo và Công Giáo.

Cụ thể, ta có thể nhận thấy cốt yếu về lòng nhân ái trong Nho giáo là lấy ‘Nhân Nghĩa như cội rễ của đạo làm người’. Trong Nho giáo, nhân (仁) là trung tâm của toàn bộ hệ thống luân lý. Khổng Tử nói: “Nhân giả, ái nhân” – người có nhân là người biết yêu người (Luận Ngữ, XII, 22). Nhân không chỉ là tình thương của cá nhân hay chỉ dành cho một cá nhân nào đó, mà là nền tảng cho trật tự xã hội: từ tình cha con, vua tôi, bằng hữu đến lòng trung hậu, khoan dung. Học giả Tu Weiming – một đại diện của Nho học hiện đại – nhận định rằng: “Nhân là biểu hiện của tính người phổ quát, là sự đồng cảm với người khác trong ý thức về cộng đồng nhân loại” .

Tại Việt Nam, tư tưởng “Nhân” được dân gian hóa thành triết lý sống giản dị: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”. Thực ra ở đây, nhân ái không chỉ là đức tính đạo đức, mà là bản sắc dân tộc, là nền tảng cho tinh thần cộng đồng – điều đã giúp xã hội Việt Nam duy trì sự gắn kết qua nhiều thế kỷ.

Kế đến, xét về lòng nhân ái trong Phật Giáo, thiết tưởng cần quan tâm đến hạn ngữ “Từ Bi”. Thật vậy, lòng từ bi trong Phật giáo được xem như suối nguồn của sự giác ngộ. Nếu Nho giáo đặt “nhân” làm cội, thì Phật giáo lấy “từ bi” làm tâm. Bởi lẽ, “Từ” là đem niềm vui, bình an cho mọi người, còn “bi” là cứu khổ, cứu nạn cho đời. Do đó, Đức Phật dạy: “Không có con đường dẫn đến từ bi – chính từ bi là con đường” (Dhammapada, câu 224).Theo Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, lòng từ bi không chỉ là cảm xúc thương xót, mà là “hiểu biết sâu sắc về nỗi khổ của người khác, để hành động giải khổ một cách thông minh và hiệu quả”.

Trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo không chỉ truyền dạy lý thuyết, mà còn thể hiện nhân ái qua hành động: lập chùa làm nơi cứu tế, dạy dân trồng trọt, mở lớp học chữ, giúp dân thoát nạn đói và chiến tranh. Có thể thấy, vào thời Triều Trần, với tinh thần “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông, đã dung hợp giữa đạo và đời, cho thấy từ bi không tách rời trách nhiệm xã hội. Ngày nay, tinh thần ấy tiếp tục sống trong hoạt động từ thiện, y tế, giáo dục và môi trường của các tổ chức Phật giáo Việt Nam. Như vậy, lòng từ bi không chỉ là lý tưởng tâm linh mà là năng lượng, là lý tưởng, là khuôn mẫu cho một hình thái xã hội tích cực.

Sau cùng, đối với Đạo Công Giáo, lòng bác ái chính là tình yêu phổ quát, là một sợi dây hiệp nhất lẫn nhau trong Chúa. Thật vậy, trong Công giáo, nền tảng đạo đức là agape – tình yêu thương vô điều kiện, hướng về Thiên Chúa và tha nhân. Chúa Giêsu dạy: “Ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình” (Mt, 22:39). Theo Thông điệp Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình Yêu, 2005) của Giáo hoàng Bênêđictô XVI: “Bác ái là con tim của đời sống Kitô hữu; mọi hoạt động tôn giáo chỉ thực sự có ý nghĩa nếu phát xuất từ tình yêu.”

Ở Việt Nam, Giáo hội Công giáo từ lâu đã gắn bó với đời sống xã hội thông qua hệ thống trường học, bệnh viện, trung tâm bảo trợ xã hội... Nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân tham gia hoạt động xã hội, chăm sóc người nghèo, bệnh nhân, trẻ mồ côi… – đó là biểu hiện cụ thể của tinh thần “đức tin hoạt động qua đức ái” (Gl 5,6). 

Bằng chứng cụ thể là vào dịp đại dịch Covid-19, trong khoảng thời gian giãn cách xã hội, nhiều người bệnh lâm vào cảnh thập tử nhất sinh trong bệnh viện, đã có không ít các linh mục, tu sĩ và giáo dân lắng nghe tiếng Chúa gọi mời qua các vị mục tử, họ đã can đảm, quản đại và dấn thân không chút sợ hãi vào các tuyến đầu chống dịch. Các giáo dân, tu sĩ, linh mục đã can trường dấn thân vào nơi “biên cương của đại dịch”, dù biết rằng môi trường đó dễ dàng lây nhiễm bệnh và có thể mắc Covid và nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng vì Lời Chúa dạy “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 9-17) và “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu” (Ga 15, 13), họ đã ra đi và giúp đỡ nhiều anh chị em đang trong cảnh lầm than, khốn cùng đó. Tất cả cũng chỉ vì lòng bác ái, lòng mến Chúa yêu người mà thôi!

Như vậy, tình yêu thương trong Kitô giáo không chỉ hướng về Thiên Chúa, mà còn hướng về từng con người, bất kể đối tượng được thương yêu kia có cùng đức tin hay không. Đây là nền tảng đối thoại liên tôn rất mạnh mẽ, vì nó khẳng định rằng: mọi người đều là con cái của cùng một Cha chung – Thiên Chúa Tình Yêu.

Tóm lại, mặc dù khác biệt về niềm tin, nhưgn tất cả các tôn giáo, cụ thể là tam giáo kể trên đều quy hướng về tình thương, về mối quan tâm đến con người. Đó chính là “mẫu số chung”, là ngôn ngữ tinh thần phổ quát mà các tôn giáo có thể đối thoại liên tôn, cùng nhau hành động. Chính học giả Hans Küng, người khởi xướng “Dự án đạo đức toàn cầu” (Global Ethic Project) – từng khẳng định: “Không thể có hòa bình giữa các dân tộc nếu không có hòa bình giữa các tôn giáo; và không thể có hòa bình giữa các tôn giáo nếu không có đối thoại giữa các tôn giáo.” 

Ước mong rằng, trong tương lai, khởi đi từ ngôn ngữ chung là “Lòng Nhân Ái”, các tôn giáo có thể tổ chức các cuộc họp đại kết, liên tôn để không chỉ dừng lại ở các hội thảo thần học mang tính học thuật, mà còn là các tổ chức thiện nguyện, từ thiện, để xây dựng công ích chung. Chẳng hạn như: môi trường giáo dục lành mạnh, bảo vệ môi trường, chăm sóc ngôi nhà chung, bảo vệ người yếu thế, cô đơn… trong các trung tâm bảo trợ xã hội. Đây là hành động đạo đức nhằm giúp thăng tiến giá trị nhân văn, công bình và hòa bình xã hội. Đây không chỉ là một ước mơ hạnh phúc và bình an của một cá nhân mà còn là lời mời gọi hiện sinh và cấp thiết cho các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam trong thời đại hôm nay.

Nguồn tham khảo:

  Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, NXB KHXH, 1980

  Tu Weiming, Confucian Humanism, 1996.

  Nẻo về của ý, Thích Nhất Hạnh, 1990

  Hans Küng, Global Responsibility: In Search of a New World Ethic, 1991

Minh Đức, SJ

19.10.2025

ĐI VÀO CHIỀU SÂU LÒNG MÌNH

 ĐI VÀO CHIỀU SÂU LÒNG MÌNH



- Hãy sống cuộc đời mình và là chính mình.

- Tình yêu cho ta hạnh phúc nhưng đôi lúc nó khiến ta khổ đau. Không có gì ngọt ngào hơn tình yêu và cũng không có gì đau khổ hơn tình yêu.

- Nếu trái tim không cho phép thì không ai có thể làm ta hạnh phúc hoặc khổ đau.

- Đau khổ như những làn sóng biển, thay vì để nó dập vùi và nhấn chìm thì ta hãy học cách bơi lội, thậm chí là lướt sóng.

- Nếu trái tim ta đủ lớn thì có thể ôm ấp, bao dung và cưu mang những người xung quanh, bất chấp những lỗi lầm, thương tổn, khổ đau mà họ gây ra cho ta.

- Tha Thứ là điều khó khăn nhất, nhưng cũng là điều cao quý nhất.

- Tức giận với người khác tựa như bản thân ta uống thuốc độc để trừng phạt họ.

- Đúng sai có được gì, cảm xúc đến rồi đi, chỉ yêu thương và tha thứ còn tồn tại.

- Trải qua khó khăn, thử thách và đau thương có thể ta sẽ nhận ra nhiều điều mới lạ nơi bản thân, tha nhân và Thiên Chúa. Nếu không có khổ đau thì biết thế nào là hạnh phúc.

- Đứng trước bệnh tật và sự chết, dù người thương ta đến mấy thì cũng đành bất lực chia tay ta.

- Đến một lúc ta nhận ra rằng: mọi sự vật, mọi con người, mọi tương quan…rồi sẽ qua đi, tất cả chỉ là những nâng đỡ tạm thời, sau cùng chỉ có Chúa Giêsu mới cứu độ chúng ta.

- Chết rồi! ta mang được gì về bên kia thế giới, ngoài công phúc và tội riêng.

- Càng đi sâu vào lòng mình, ta càng thấy những điều kỳ diệu trong tâm hồn, nó như một mảnh vườn đang cần ta chăm sóc: cắt tỉa gai góc, cỏ dại, tưới bón và chăm hoa…

- Để sống hạnh phúc hơn: hãy ghi lại mỗi ngày 3 điều khiến ta cảm thấy biết ơn hơn là những gì ta đã mất hoặc chưa có được.

- Không có hạnh phúc đích thực nếu không cảm nhận được Thiên Chúa đang ở trong tâm hồn mình.

- Điều quan trọng nhất trong cuộc sống này là được gặp gỡ Chúa hằng ngày. Sẽ là một thất bại khi cả một ngày sống ta không gặp được Chúa.

- Chúa không ở đâu xa: Chúa không chỉ ở trong nhà thờ, mà Ngài còn ở trong các mối tương quan, những cảnh đời đáng thương và sâu thẳm trong lòng ta. Chúa vẫn chờ, vẫn đợi để được gặp gỡ ta hằng ngày.

- Có những góc khuất trong tâm hồn mà có thể người khác không thấy, thậm chí bản thân ta cũng không thấy, mà chỉ có Thiên Chúa thấu suốt, Ngài chờ đợi ta ngỏ lời xin chữa lành.

- Nếu thực sự gặp được Thiên Chúa thì cuộc đời ta sẽ được biến đổi.

- Mỗi ngày, cần một ơn xin là: lòng mến và ân sủng của Chúa để con nhận ra và thực thi Thánh Ý Ngài.

- Bộ ba: Niềm Vui, Bình An và Hạnh Phúc luôn đi kèm với hành động: Sẻ Chia, Yêu Thương và Tha Thứ. Bởi muốn có niềm vui hãy sẻ chia, muốn bình an hãy sống yêu thương và muốn hạnh phúc hãy tha thứ cho người khác và chính bản thân mình.

- Có ba chữ T mà ta cần sống mỗi ngày: Thánh Kinh, Thánh Thể và Thánh Giá và cũng ba chữ T giúp ta có sự hài hòa trong tương quan với Thiên Chúa, tha nhân và vũ trụ vạn vật (Thiên-Địa-Nhân): Tình Yêu, Tha Thứ và Tin Tưởng.

Note: Những suy tư và đúc kết trên đây, dĩ nhiên không phải là chân lý hay lẽ sống, nhưng chỉ là một chút kinh nghiêm cá vị và nhỏ bé được góp nhặt qua những ngày hồi tâm và xét mình trong Chúa. Hy vọng một ngày đẹp trời những ý tương trên sẽ được thai nghén trong một cuốn sách nhỏ, như một hành trang của người hành hương trên đường hy vọng về quê Trời. Xin tạ ơn Chúa và cảm ơn mọi người.

Minh Đức, SJ

A.M.D.G

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2025

CHÂM NGÔN SỐNG CỦA 2 VỊ THÁNH TRẺ ĐÁNG ĐỂ TA SUY NGẪM

 CHÂM NGÔN SỐNG CỦA 2 VỊ THÁNH TRẺ ĐÁNG ĐỂ TA SUY NGẪM



I. Carloro Acutis (1991-2006)

1. Thánh Thể là xa lộ đưa tôi về Thiên Đàng. Bởi càng gần Thánh Thể tôi càng dễ trở nên thánh thiện.

2. Chúng ta được sinh ra như bản gốc, đừng chết như bản sao.

3. Luôn kết hiệp với Chúa, đó là chương trình sống của tôi.

4. La bàn của chúng ta phải là Lời Chúa, chúng ta phải liên tục dùng la bàn này.

5. Hạnh phúc là hướng về Chúa, buồn là hướng về mình.

6. Không có Chúa, tôi không thể sống được.

7. Điều duy nhất khiến chúng ta thực sự khác biệt là cách chúng ta yêu thương.

8. Không phải danh tiếng, không phải tài năng, mà chính tình yêu là điều mang lại giá trị vĩnh cửu cho mỗi người.

9. Kinh Mân Côi là những nấc thang ngắn nhất để bước lên Thiên Đàng. Bởi vì sau Bí tích Thánh Thể, kinh Mân Côi là vũ khí rất lợi hại để chống lại ma quỷ.

10. Điều duy nhất khiến chúng ta phải sợ hãi đó là tội lỗi.

11. Quan tâm chăm sóc tâm hồn thì quan trọng hơn là vẻ đẹp ngoại hình.

12. Chương trình sống của tôi hằng ngày là nên một với Chúa Giêsu.

13. Chiến thắng bản thân sẽ ích lợi hơn việc chiến thắng ngàn trận chiến bên ngoài.

14. Giáo Hội là cửa nguồn ban phát bí tích, thế nên chỉ trích Giáo Hội là chỉ trích chính chúng ta.

15. Hoán cải không gì khác hơn là chuyển hướng nhì từ mình về Thiên Chúa.

16. Bạn chỉ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời, khi tìm kiếm Thiên Chúa.

17. Tự do đích thực là thi hành Thánh Ý Chúa.

18. Chúng ta càng trở nên xinh đẹp khi hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em mình.

19. Người môn đệ đích thực của Đức Kitô là người biết noi gương bắt chước Ngài.

20. Thánh hóa bản thân không gì khác hơn việc yêu Chúa và bỏ mình hơn mỗi ngày.

21. Tôi chết thanh thản bởi không lãng phí giây phút nào vào chuyện không làm đẹp lòng Chúa.

II. Pier Giorgio Frassati (1901-1925)

1. Dobbiamo vivere, non vivacchiare” – nghĩa là: “Chúng ta cần phải sống, chứ không chỉ sống vật vờ.

2. Sống mà không có đức tin, không có di sản để bảo vệ, không đấu tranh liên tục cho chân lý, thì không phải là sống mà là ‘thỏa hiệp’; chúng ta không bao giờ chỉ là thỏa hiệp.

3. Chúa Giêsu ở cùng tôi. Tôi chẳng có gì phải sợ.

4. Một người Công giáo không thể bất hạnh. Họ hạnh phúc ngay cả khi đau khổ.

5. Thật giàu có khi có sức khỏe tốt, như chúng ta hiện tại! Chúng ta có nhiệm vụ phải đem sức khỏe của mình để phục vụ cho những người không có sức khỏe.

6. Kẻ ngu ngốc là kẻ chạy theo thú vui của thế gian này. Niềm vui đích thực duy nhất là niềm vui đến với chúng ta thông qua đức tin.

7. Khi bạn hoàn toàn bị ngọn lửa Thánh Thể thiêu đốt, thì bạn sẽ có thể ý thức hơn để cảm tạ Thiên Chúa. 

8. Hạnh phúc đích thực không nằm ở những thú vui của thế gian này, hay những thứ trần tục, mà nằm ở sự bình an trong lương tâm, điều mà chúng ta chỉ có được nếu chúng ta có trái tim và tâm trí trong sạch.

9. Cầu nguyện hằng ngày giúp ta vượt qua mọi nỗi buồn sầu.

10. Chúng ta, những người Công giáo, nhờ ơn Chúa, không được phung phí những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình như nhiều người trẻ bất hạnh vẫn làm, những người lo lắng về việc tận hưởng những điều tốt đẹp trong cuộc sống, những điều thực ra không mang lại điều gì tốt đẹp, mà chỉ là kết quả của sự vô luân trong thế giới ngày nay.

11. Trong thế giới ngày nay, Đức Tin như một mỏ neo của Ơn Cứu Rỗi.

Minh Đức, SJ

A.M.D.G

Tổng hợp từ nhiều nguồn.

Kỷ niệm ngày lễ phong thánh của 2 vị thánh trẻ: 07/9/2025